Chương 1: Sự ra đời của phong trào Isson-Ippin ở Nhật Bản thập niên 1980 Trong chương một, tác giả sẽ giới thiệu tổng quát về bối cảnh kinh tế, xã hội của Nhật Bản nói chung, tỉnh Oita nói riêng trong những năm đầu thập niên 1980; sự ra đời của phong trào phát triển nông nghiệp nông thôn ở thị trấn Oyama - tiền thân của phong trào Isson-Ippin và phong trào Isson-Ippin khi được khởi xướng trong toàn tỉnh Oita với những nguyên tắc và phương châm hoạt động cụ thể. Chương 2: Quá trình mở rộng phong trào Isson-Ippin ở Nhật Bản Chương hai là một trong hai chương chính của luận văn. Trong chương này, tác giả tập trung phân tích các hoạt động cũng như quá trình mở rộng ảnh hưởng của phong trào Isson-Ippin ở trong và ngoài tỉnh Oita trong giai đoạn từ năm 1980- 2000. Các hoạt động chủ yếu của phong trào gồm có hoạt động xây dựng và phát triển sản phẩm; hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và hoạt động mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế.
Chương 3: Đánh giá vai trò của phong trào Isson-Ippin trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Nhật Bản giai đoạn 1980-2000 Trong chương ba, tác giả sẽ phân tích và đánh giá những thành quả mà phong trào Isson-Ippin đem lại đối với sự phát triển kinh tế, xã hội nông thôn ở tỉnh Oita nói riêng và Nhật Bản nói chung. Cùng với đó, tác giả cũng lý giải và chỉ ra nguyên nhân, bài học thành công cũng như những tồn tại và thách thức của phong trào Isson-Ippin trong việc duy trì và phát huy những thành quả mà phong trào đã đạt được trong suốt quá trình hình thành và phát triển. 14 Chƣơng 1 SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO ISSON - IPPIN Ở NHẬT BẢN THẬP NIÊN 1980 1. Bối cảnh kinh tế, xã hội ở nông thôn Nhật Bản trong thập niên 1980 Không thể phủ nhận những thành quả vượt trội cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hoá, xã hội của kỷ nguyên tăng trưởng nhanh (1955-1973) đã giúp Nhật Bản phục hồi nhanh chóng những hậu quả của chiến tranh, đồng thời vươn mình mạnh mẽ trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai của thế giới.
Tuy nhiên, sau giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ, Nhật Bản dần bước vào giai đoạn suy thoái với hàng loạt những vấn đề được coi là hệ quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh chóng trước đó. Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, cùng với môi trường sinh hoạt thuận lợi ở các đô thị lớn, sự gia tăng nhanh chóng các khu công nghiệp tập trung đã kéo theo tình trạng di dân ồ ạt ra các đô thị và khu công nghiệp phát triển, tạo nên tình trạng mất cân bằng dân số cũng như kéo rộng khoảng cách chênh lệch giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn. Điều này được phản ánh rõ nét trong biểu đồ 1.1: Tình hình dân số thành thị và nông thôn Nhật Bản giai đoạn 1960-1980 (Đơn vị: nghìn người) Thành thị Nông thôn 84,967 89,187 75,428 67,356 59,677 34,622 31,852 29,236 26,972 27,872 1960 1965 1970 1975 1980 Nguồn: tác giả lập theo thông tin của Tổng cục Thống kê Nhật Bản [49, tr.3] Theo thống kê dân số toàn quốc, năm 1960, tổng dân số của Nhật Bản là 94,3 triệu người, trong đó dân số ở khu vực thành thị là 59,6 triệu người, chiếm 63,3%, trong khi đó, dân số ở khu vực nông thôn là 34,6 triệu người, chỉ chiếm 36,7% dân số toàn quốc. Năm 1980, dân số Nhật Bản là 117,06 triệu người, trong vòng 20 năm (1960-1980), tổng dân số đã tăng hơn 22 triệu người.
Tuy nhiên, phần lớn dân số vẫn tập trung ở khu vực thành thị với mức tăng khá mạnh, tăng gần 13%, từ 63,3% năm 1960 lên 76,2% năm 1980 (tăng 29,5 triệu người). Ngược lại, dân số ở khu vực nông thôn vốn chỉ chiếm 1/3 dân số cả nước lại có xu hướng giảm liên tục từ 36,7% năm 1960 chỉ còn 23,8% năm 1980 (giảm 6,7 triệu người). Điều này phản ánh sự mất cân bằng dân số nghiêm trọng giữa thành thị và nông thôn. Mặt khác, tình trạng đầu tư và phát triển kinh tế không đồng đều giữa các khu vực đã góp phần làm gia tăng khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền.2: Tỷ lệ phân bố dân số giữa các khu vực trên toàn quốc năm 1960-1980 16 Năm 1960 Năm 1980 Hokkaido Honshu Hokkaido Honshu Shikoku Kyushu/Okinawa Shikoku Kyushu/Okinawa 5% 3% 15% 5% 12% 4% 76% 80% Nguồn: [49, tr.7] Trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nền kinh tế Nhật Bản chú trọng phát triển công nghiệp với sự xuất hiện của hàng loạt các trung tâm và vùng công nghiệp lớn trên cả nước như: Keihin (vùng đồng bằng Kanto, lấy Tokyo và Yokohama làm trung tâm), Chukyo (tập trung quanh Nagoya), Hanshin (khu vực Osaka, Kobe), Setouchi (khu vực biển Nội Seito với trung tâm là Hiroshima) và Kitakyushu (khu vực Kitakyushu và Fukuoka).
Trong đó, Keihin, Chukyo và Hanshin tạo thành vành đai công nghiệp Thái Bình Dương, cùng với thủ đô Tokyo đã kéo theo sự tập trung đến gần 80% dân số (Biểu 1. Chính sự phát triển mất cân đối này đã kéo theo hàng loạt hệ quả xấu tác động trở lại nền kinh tế và xã hội. Dân số gia tăng quá nhanh tại các đô thị, khu công nghiệp, trong đó tỷ lệ thanh niên chiếm đại đa số càng thúc đẩy tình trạng suy giảm và già hoá dân số ở khu vực nông thôn. Điều này lại tiếp tục dẫn đến hệ quả là những người trẻ càng không thiết tha gắn bó với quê hương, tiếp tục tìm kiếm cơ hội tại các đô thị, tạo thành vòng xoay luẩn quẩn không lối thoát cho các vấn đề ở khu vực nông thôn.
Nhật Bản cũng là một trong những nước có tỷ lệ già hoá dân số cao trong khu vực và trên thế giới. Tỷ lệ lao động trẻ trong cơ cấu dân số có xu hướng giảm dần và giảm nhanh qua các năm. Dưới đây là biểu đồ phản ánh sự biến đổi tỷ lệ lao động trong dân số Nhật Bản những năm 1960 và 1980.3: Tỷ lệ lao động phân theo nhóm tuổi của Nhật Bản năm 1960 và năm 1980 Năm 1960 Năm 1980 15~29 tuổi 30~39 tuổi 15~29 tuổi 30~39 tuổi 40~49 tuổi 50~59 tuổi 40~49 tuổi 50~59 tuổi 60~64 tuổi Trên 65 tuổi 60~64 tuổi Trên 65 tuổi 4% 4% 4% 5% 13% 25% 39% 17% 17% 23% 26% 23% Nguồn: [55, tr.28] Qua số liệu ở biểu đồ 1.3 có thể thấy nhóm lao động trong độ tuổi từ 15 đến 29 tuổi có xu hướng giảm mạnh, giảm gần 15% trong vòng 20 năm (giảm từ 39,2% năm 1960 xuống còn 24,5% năm 1980). Nhóm lao động trong độ tuổi từ 30 tuổi đến 59 tuổi có xu hướng tăng dần qua các năm nhưng tăng khá chậm (nhóm lao động trong nhóm từ 30 đến 39 tuổi tăng 3%, nhóm lao động trong nhóm từ 40 đến 49 tuổi tăng mạnh nhất so với các nhóm còn lại đã tăng khoảng 6%, nhóm lao động trong độ tuổi từ 50 đến 59 tuổi tăng gần 4%).
Trong khi đó, trong vòng 20 năm nhóm lao động trong độ tuổi trên 65 tuổi đã tăng từ 4,3% lên 5,2% cho thấy vấn đề già hoá dân số đang là vấn đề cần quan tâm nhiều nhất tại Nhật Bản.4 dưới đây phản ánh tình hình phân bố lao động theo ngành nghề ở Nhật Bản. Theo đó, nhóm ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm gần hai phần ba số lao động trong vòng 30 năm, từ 16,1 triệu người năm 1955 xuống còn 5,4 triệu người năm 1985. Trong khi đó, lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng mạnh. Trong vòng 30 năm (1955-1985), số lao động trong ngành công nghiệp tăng gấp đôi từ 9,2 triệu người lên 19,2 triệu người.
Cùng với đó, lao động trong ngành 18 dịch vụ và thương mại cũng tăng gần gấp ba lần trong 30 năm, từ 13,9 triệu người lên 33,4 triệu người. Việc phát triển không đều và mất cân đối giữa các ngành nghề sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho ngành sản xuất nông nghiệp nói chung ngày càng suy thoái.4: Tình hình phân bố lao động trong các ngành nghề sản xuất của Nhật Bản giai đoạn 1955-1985 (Đơn vị: nghìn người) Nông nghiệp Công nghiệp Thương mại và Dịch vụ 33,490 27,690 20,480 19,210 17,130 15,390 18,100 16,110 13,930 9,220 7,350 5,420 1955 1965 1975 1985 Nguồn: [8, tr.29] Mặt khác, trong cơ cấu lao động ở các ngành nghề phân theo nhóm tuổi thì tỷ lệ lao động trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 34 tuổi có xu hướng giảm dần trong tất cả các ngành sản xuất, và ngược lại, tỷ lệ lao động từ 60 tuổi trở lên có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt là nhóm lao động trên 65 tuổi. Hơn nữa, nhóm người cao tuổi trên 60 tuổi chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, thuỷ sản (tham khảo thêm ở Bảng 1, Phụ lục, tr. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng năng lượng 1973-1975 càng làm cho Nhật Bản vốn là nước phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu lửa nhập khẩu để phát triển công nghiệp lâm vào tình trạng đình lạm sâu sắc, những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như công nghiệp đóng tàu, hoá dầu, gia công kim loại,… bị khủng hoảng nặng nề.
Tác động của cú sốc dầu lửa cộng với những hệ quả từ giai đoạn phát triển nóng trước đó đã khiến cho Nhật Bản phải tích cực triển khai các chương trình tiết kiệm năng lượng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành dịch 19 vụ; phục hồi sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, tận dụng nguồn lực nội sinh, chú trọng đến việc chấn hưng và phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn. Năm 1977, chính phủ Nhật Bản đã xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển tổng hợp toàn quốc lần thứ ba (第三次全国総合開発計画, hay còn gọi là Kế hoạch tổng hợp lần thứ ba trong 10 năm 1977-1987). Kế hoạch này nhấn mạnh đến việc khôi phục sản xuất ở các địa phương, ổn định cư trú thông qua việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, môi trường sống tiện lợi cho người dân ở các khu vực nông thôn; phát huy tinh thần tự lập, tự chủ, sáng tạo, cống hiến và làm giàu trên quê hương của người dân. Cùng với những nỗ lực của chính phủ, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể địa phương cũng đã phát động những phong trào tự lực, tự cường, nêu cao tinh thần tự chủ, sáng tạo của địa phương mình.
Tiêu biểu và thành công nhất trong các phong trào xây dựng địa phương trong giai đoạn này phải kể đến phong trào Isson-Ippin do Thống đốc tỉnh Oita là ông Hiramatsu Morihiko khởi xướng cuối năm 1979.