Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu lý luận về vai trò của nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo * Nghiên cứu ly luận về sựphân hóa giàu - nghèo và sựphân cực giàu - nghèo Năm 1996, đề tài cấp Nhà nước Những đặc trưng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam đang đổi mới do Đỗ Nguyên Phương làm chủ nhiệm được bảo vệ thành công. Từ thực tiễn phân tích sự phân hóa giàu - nghèo về thu nhập, về mức sông, về nhà ở và tiện nghỉ trong gia đình, về mức hưởng thụ văn hóa, v. Các tác giả cho răng, “phân hóa giàu nghèo chủ yếu là sự phân cực về kinh tế” [105, tr.62], và biên độ giữa giàu - nghèo ngày càng cách xa nhau trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Công trình gợi mở cho tác giả luận án đi sâu nghiên cứu khái niệm, cũng như biểu hiện và hệ lụy của sự phân cực giau - nghéo ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó chỉ ra sự khác biệt giữa sự phân hóa giàu - nghẻo với sự phân cực giau - nghèo. Các tác giả cuốn Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội do Lê Hữu Tang chủ biên (1997) cho rang, “sự phân cực giàu nghèo hiện đang diễn ra có những nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó, nhưng sự phân cực ấy chủ yếu không bắt nguồn từ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và một cách tương ứng, chủ yếu không bắt nguồn từ sự bóc lột lao động làm thuê” [116, tr. Do đó, các hộ giàu và nghèo ở đây đều là những người lao động, đều tạo ra thu nhập chủ yếu bằng sức lao động của chính mình, trong đó hộ nào có điều kiện, có nhiều sức lao động, có kinh nghiệm và khả năng kinh doanh sản xuất sẽ giàu hơn.
Vì thế, không nên và không thể nôn nóng, muốn xóa bỏ mọi sự bat bình dang xã hội ngay lập tức, mà chỉ có thê thực hiện mục tiêu cuối cùng đó dan dan. Công trình bước đầu đã có những gợi mở về thuật ngữ sự phân cực giàu - nghèo. Bài viết “Sự phân tầng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường” của Trịnh Duy Luân trong cuốn Những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam (2000), khăng định, phát triển kinh tế thị trường cũng sẽ dẫn đến phân hóa giàu - nghèo trong các tầng lớp dân cư. Khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo ngày càng tăng “có thé gây nên những bất ồn định, tiêu cực và xung đột” [71, tr.
Tuy dung lượng bài viết không dài, nhưng tác giả Trịnh Duy Luân đã phác thảo hết sức sắc sảo về thực trạng của sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những cảnh báo nguy hiểm cho đất nước nếu như Nhà nước không có giải pháp thích hợp dé khắc phục tình trạng trên. Năm 2000, các tác giả cuốn Giải quyết van dé phân hóa giàu nghèo ở các nước và Việt Nam do Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa và Nguyễn Văn Áng đồng chủ biên, đã dựa trên một số lý thuyết về sự phân hóa - giàu nghèo, tiêu chí, nguyên nhân và ảnh hưởng của sự phân hóa giàu - nghèo trên thế giới dé luận giải thực trạng của sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam. Ngoài tiêu chí thu nhập, mức sống, tư liệu sản xuất và tài sản chủ yếu, công trình còn đưa ra những tiêu chí mới, như “giao duc, văn hóa, việc làm và các lĩnh vực khác” [99, tr. dé xem xét van đề giàu - nghèo.
Cách tiếp cận này mở ra cái nhìn đa chiều khi đánh giá biểu hiện của sự phân cực giau - nghèo ở Việt Nam hiện nay. Trong dé tài Khoa học cấp Bộ Sự phân hóa xã hội và các chính sách xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh té quốc tế do Trần Phúc Thăng làm chủ nhiệm (2006), đã nêu ra khái niệm phân hóa giảu - nghèo, những căn cứ và các tiêu chí cơ bản dé phân biệt giàu - nghèo. Trên cơ sở đó, đề tài cho rằng sự phân hóa giàu - nghèo, một mặt, thúc đây sự phát triển sản xuất, mặt khác, tạo ra “những bất ôn định không chỉ về kinh tế, mà còn dẫn tới cả sự bat 6n trên lĩnh vực chính trị, thậm chí dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa” [121, tr. Kết quả của dé tài đã gợi mở cho tác giả luận án khi đưa ra quan niệm về sự phân cực giau - nghéo và hệ lụy của sự phân cực đó.
Nam 2006, cuốn Có một nước Mĩ khác: Sự nghèo khó ở Hoa Kỳ của Michael Harrington được xuất bản, tác giả cho răng, trong nền kinh tế tăng trưởng phân cực, thế giới của người nghèo ngày càng mở rộng và càng nghèo, dẫn đến những van nạn xã hội nghiêm trọng, bởi những người nghèo ở bên ngoài lịch sử, bên ngoai sự tiên bộ, bi chìm vào một lộ trình tê liệt và tan tật, không hé có tiêng nói chính tri của 10 riêng mình. Do đó, “điều cần thiết là nếu muốn nghèo khó bị thủ tiêu thì phải có một cuộc đấu tranh chính trị, một sự tái cấu trúc hệ thong cac dang phai dé có thé có một lựa chon rõ ràng, một tam thức mới về lí tưởng xã hội” [46, tr. Day có thể coi là một cuốn sách tốt trong cuộc chiến chống đói nghèo, từ đó góp phần cảnh báo về sự cần thiết phải thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư. Cuốn Hệ thong phân tang xã hội ở Việt Nam hiện nay (Qua những cuộc điêu tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002 - 2004 - 2006 - 2008) của Đỗ Thiên Kính (2012) đã tóm tắt một cách tổng quan những tiêu chuẩn cơ bản dùng để xem xét sự phân tang xã hội: thi nhất, “dựa vào quyền sở hữu và quyền kiểm soát không ngang nhau giữa các tập đoàn người đối với tài sản” [64, tr.17]; thir hai, dựa vào địa vị kinh tế - xã hội (thu nhập, học vấn, uy tín nghề nghiệp); thw ba, dựa vào việc sử dụng quyền lực chính trị và quân sự, trong đó quyên lực chính trị là quan trọng; thir tw, dựa trên cơ sở các nhân tố thuộc về văn hóa và vốn văn hóa; thir năm, dựa trên sự đánh giá chủ quan của một sỐ người tự nhận mình thuộc thứ bậc nào trong xã hội.
Công trình có giá trị với tác giả luận án khi phân tích, đánh giá biểu hiện của sự phân cực giàu - nghèo, mặc dù không trực tiếp bàn đến sự phân cực giàu - nghèo. Trong cuốn Phân tang xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (2012) [128], Lê Văn Toàn khi bàn đến khái niệm phân hóa giàu - nghèo, đã cho rằng phân hóa giàu - nghèo là một dạng, một hình thức của sự phân hóa xã hội về mặt kinh tế, dựa trên chỉ báo kinh tế. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, khái niệm sự phân hóa giàu - nghèo được xem xét chủ yếu dưới góc độ kinh tế là chưa toàn diện. Bởi, ngoài góc độ kinh tế, khái niệm phân hóa giàu - nghèo còn có chỉ báo phi kinh tế, vì thế nội dung của sự phân hóa giàu - nghèo cần được nhìn nhận đa chiều hơn.
Năm 2013, trong cuốn Phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay: Một số van dé lý luận và thực tiễn, Bùi Thị Hoan đã đưa ra khái niệm phân hóa giàu - nghèo và khái quát cơ sở xác định phân hóa giàu - nghèo theo một số tiêu chí, như: “sự khác nhau vê quyên sở hữu, chiêm hữu các tư liệu sản xuât quan trọng; sự 11 chênh lệch về thu nhập, chi tiêu, mức sống, mức hưởng thụ; sự khác nhau về cơ hội và điều kiện, việc làm; sự khác nhau về khả năng tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản; sự phân biệt về vị thế chính trị - xã hội; sự khác nhau về nhận thức, quán triệt đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [53, tr. Công trình đã gợi mở cho tác giả luận án khi đưa ra khái niệm phân cực giau - nghèo cũng với các tiêu chí đánh giá sự phân cực đó. Năm 2013, Oxfam đã công bố nghiên cứu Tém lược gợi ý chính sách bat bình dang gia tăng: Người dân nghĩ gì? Nghiên cứu nay chú trọng tìm hiéu nhận thức của các nhóm dan cư về mối quan hệ tương hỗ giữa bat bình đăng gia tăng với dịch chuyển xã hội, niềm tin xã hội/niềm tin thé chế và phân bổ nguồn lực. Đặc biệt, nghiên cứu cho rằng, nên “kết hợp đo lường “nghèo đa chiều” với đo lường “bất bình đăng” dựa trên sự kết hợp nhiều chiều khác về giáo dục, y tế, điều kiện sống” [96, tr.
Vì vậy, nhà nước cần đầu tư mạnh hơn vào cải thiện cơ sở hạ tầng tại những nơi cộng đồng thôn bản khó khăn nhất và khó tiếp cận nhất ở vùng miền núi dân tộc thiểu số và ưu tiên thực hiện các giải pháp cơ bản nhằm giảm chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm dân tộc đa số. Công trình có đóng góp tốt cho tác giả luận án trong hướng nghiên cứu biểu hiện và giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu sự phân cực giảu - nghẻo. Báo cáo Điểm lại cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới (2014), khẳng định: “Người dân Việt Nam quan ngại về bất bình đăng và nhiều người nhận thay bất bình dang dang gia tăng” [92, tr. Bất bình dang dan đến những hệ quả sau: (1) Làm suy giảm gắn kết xã hội và chính trị.
Những người chịu thiệt thòi to lớn có thể quay qua sử dụng bạo lực và tranh chấp như là phương kế cuối cùng giúp giải quyết van đề của ho; (2) Ảnh hưởng tới niềm tin và có thé cản trở nỗ lực hợp tác giải quyết vẫn đề, đặc biệt trong quản lý các nguồn lực chung và cung cấp dịch vụ công; (3) Kìm hãm tăng trưởng kinh tế nếu người nghèo không có khả năng vay tiền đề đầu tư vào giáo dục và các hình thức vốn sinh lợi khác. Đây chính là những cảnh báo về hệ lụy của sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.