Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị của tác giả Nguyễn Thị Lương (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện tháng 5/2005 dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thị Lan Phượng) tập trung vào đề tài: "Vai trò của Ngân Hàng Nhà Nước trong nền kinh tế nước ta hiện nay" (trong phần Mở đầu được xác định cụ thể là "Vai trò của Ngân Hàng Nhà Nước trong việc điều tiết nền kinh tế nước ta hiện nay").
Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn công cuộc Đổi mới, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước (kế hoạch, pháp luật, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ), hệ thống ngân hàng đóng vai trò điều tiết trọng yếu. Mặc dù ngành ngân hàng đã có những bước cải cách tổ chức và chính sách nhằm kiềm chế lạm phát, song so với yêu cầu phát triển mới, hệ thống ngân hàng trong nước thời điểm đó vẫn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, hiệu lực điều tiết chưa được phát huy đầy đủ, đặt ra yêu cầu cấp bách về an toàn và hiệu quả hoạt động tín dụng.
Về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Làm sáng tỏ căn cứ lý luận và thực tiễn về vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước; khẳng định khả năng và tính hiện thực của vai trò này trong điều tiết kinh tế; đề xuất phương hướng phát triển hệ thống ngân hàng nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.
- Đánh giá thực trạng điều tiết kinh tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn vừa qua và những thành tựu đạt được.
- Xác định phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển, nâng cao hiệu lực của Ngân hàng Nhà nước.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với nền kinh tế nước ta, trọng tâm là vai trò của Ngân hàng Trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia trong mối quan hệ biện chứng với các ngân hàng thương mại để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu là hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam (có so sánh bài học kinh nghiệm quốc tế tại Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản); thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 đến năm 2004/2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (đặc biệt là lý luận của V.I. Lênin về tư bản tài chính và nhận định của Ph. Ăng-ghen về quy luật lưu thông tiền giấy), tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện qua các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX.
Về khung pháp lý và khái niệm nghiệp vụ, tác giả căn cứ vào:
- Các văn bản pháp luật và quản lý nhà nước: Chỉ thị 100 (13/01/1981) của Ban Bí thư, Quyết định 146 của Hội đồng Bộ trưởng (tháng 8/1982), Chỉ thị 218 (13/07/1987), Nghị quyết 53/HĐBT (26/03/1988), Hai Pháp lệnh về Ngân hàng (ban hành tháng 5/1990, có hiệu lực từ 01/10/1990), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đặc biệt là Điều 23 quy định quyền phát hành tiền), và Quyết định 90, 91 của Thủ tướng Chính phủ.
- Khái niệm và mô hình vận hành: Mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp; cơ chế tạo bút tệ của ngân hàng thương mại; chính sách tiền tệ thắt chặt/mở rộng; các công cụ điều tiết vĩ mô (dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn/tái chiết khấu, thị trường mở, lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá hối đoái).
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu kinh tế.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn và khái quát hóa lý luận.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình bao gồm:
- Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam và văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
- Kế thừa kết quả từ các luận án tiến sĩ chuyên ngành tiền tệ - tín dụng - ngân hàng của các tác giả: Nguyễn Thế Khải, Hoàng Ngọc Hòa, Cao Sỹ Liêm, Lê Văn Châu, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Văn Ngoan.
- Số liệu thống kê từ Tạp chí Ngân hàng (số 2/2005) và Niên giám Thống kê các năm 2000, 2003 (Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Vai trò của Ngân Hàng Nhà Nước trong nền kinh tế thị trường và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành và bản chất của thiết chế ngân hàng:
- Lịch sử ra đời: Ngân hàng khởi nguồn từ hoạt động giữ hộ của cải (vàng, bạc, đá quý) tại các nhà thờ, thợ vàng; phát triển thành việc phát hành biên nhận (thanh toán không dùng tiền mặt sơ khai), tiến tới phát hành tiền giấy khả hoán và cấp tín dụng sinh lời. Quá trình này làm nảy sinh hai mâu thuẫn cơ bản: nguy cơ lạm phát do lạm dụng phát hành tiền khi nhiều ngân hàng cùng có quyền phát hành, và rủi ro đổ vỡ hệ thống do mở rộng tín dụng quá mức không thể thu hồi. Để giải quyết, nhà nước tập trung quyền phát hành và giám sát vào một cơ quan duy nhất là Ngân hàng Trung ương, hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp từ cuối thế kỷ XIX.
- Chức năng của Ngân hàng Thương mại: Đóng vai trò trung gian tài chính (cầu nối người gửi và người vay), trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán, đồng thời thực hiện chức năng tạo bút tệ trong hệ thống ngân hàng hai cấp dưới sự quản lý của Ngân hàng Trung ương.
- Vai trò và chức năng của Ngân hàng Nhà nước: Là cơ quan độc quyền phát hành tiền tệ và điều tiết lưu thông tiền tệ, tín dụng; là người đại diện về tài chính tiền tệ của nhà nước, cung cấp tín dụng cho nhà nước và quản lý vay nợ nước ngoài; quản lý hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thông qua cấp phép, thanh tra và tái cấp vốn.
- Chính sách tiền tệ và công cụ điều tiết: Xác định hai hướng điều hành (thắt chặt hoặc nới lỏng) nhằm ba mục tiêu: ổn định tiền tệ/giá cả/tỷ giá, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Hệ thống công cụ gồm: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tái chiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng, điều chỉnh tỷ giá, can thiệp thị trường vàng/ngoại tệ và công tác thanh tra.
- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam:
- Thái Lan: Từng đạt tỷ suất lợi nhuận ngân hàng 25% và dư nợ vay nước ngoài chiếm 55% GDP vào năm 1996, nhưng do lạm dụng vốn ngắn hạn nước ngoài đã dẫn đến khủng hoảng năm 1997 (phải đóng cửa 58 chi nhánh ngân hàng/công ty tài chính, nợ xấu lên 15%). Sau đó phải cải cách bằng cách giới hạn cho vay tối đa 25% vốn tự có và trích lập dự phòng 100% nợ nghi ngờ.
- Hàn Quốc: Trải qua quá trình thành lập Ngân hàng Trung ương (1950), Ngân hàng Nông nghiệp (1956), Ngân hàng Ngoại hối và Xuất nhập khẩu (1967); vận hành chính sách tiền tệ theo mô hình "con lắc" (ổn định và phát triển), áp dụng linh hoạt công cụ tái chiết khấu, thị trường mở với trái phiếu ổn định tiền tệ, và quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (tháng 6/1990 đưa về mức thống nhất 11,5%).
- Nhật Bản: Xử lý khủng hoảng lạm phát sau Thế chiến II (cung tiền năm 1945 gấp 18,1 lần năm 1936) bằng biện pháp đổi tiền mới (hạn mức 100 Yên/người, phong tỏa phần còn lại) và triển khai đường lối Dodge (ngừng cho vay tái thiết, hạ tỷ giá Yên, chấm dứt bù lỗ xí nghiệp, cân đối ngân sách).
- Bài học đối với Việt Nam: Tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh tín dụng; thận trọng không tự do hóa dòng vốn ngắn hạn nước ngoài quá sớm; vận dụng linh hoạt các công cụ gián tiếp và nâng cao năng lực của ngân hàng chuyên doanh xuất nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng tác động nền kinh tế của Ngân Hàng Nhà Nước trong thời gian qua và những yêu cầu mới đặt ra
Chương 2 phân tích diễn biến thực tiễn điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến 2004:
- Quá trình chuyển đổi mô hình: Sau các mốc chủ trương Hội nghị TW 6 khóa IV (tháng 9/1979), Chỉ thị 100 (1981), Quyết định 146 (1982) và Đại hội VI (1986), hệ thống ngân hàng từng bước đổi mới. Ban đầu thí điểm theo Chỉ thị 218 (1987), sau đó mở rộng toàn quốc theo Nghị quyết 53/HĐBT (1988), chính thức tách hệ thống ngân hàng một cấp thành hai cấp (Ngân hàng Nhà nước và 4 ngân hàng chuyên doanh: Công thương, Nông nghiệp, Đầu tư và Phát triển, Ngoại thương). Mô hình được thể chế hóa toàn diện qua Hai Pháp lệnh về Ngân hàng năm 1990, với mức cấp vốn ban đầu 200 tỷ đồng (tương đương 30 triệu USD) cho mỗi ngân hàng thương mại quốc doanh.
- Hiệu quả kiềm chế lạm phát: Sau giai đoạn siêu lạm phát 1987-1988 (lạm phát năm 1987 là 223,1%, năm 1988 là 349,4%), Ngân hàng Nhà nước áp dụng "liệu pháp sốc" vào tháng 3/1989 bằng cách nâng mạnh lãi suất tiền gửi lên mức thực dương (lãi suất tiền gửi trung bình tháng đạt 9% vào quý II/1989 so với 7% cuối 1988), đồng thời tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 35%. Biện pháp này đã nâng số dư tiền gửi tiết kiệm từ 1.303 tỷ đồng (cuối 1988) lên 4.127 tỷ đồng (năm 1989), tăng 317%, giúp hạ nhiệt lạm phát nhanh chóng. Giai đoạn 1992-1997, lạm phát bình quân được duy trì ở mức 9,5% trong khi GDP tăng trưởng trung bình 8,77%/năm.
| Chỉ tiêu theo dõi |
Năm 1987 |
Năm 1988 |
Giai đoạn 1992 - 1997 (bình quân) |
Năm 2003 |
| Tỷ lệ lạm phát (%) |
223,1 |
349,4 |
9,5 |
Vừa phải |
| Tăng trưởng GDP (%) |
— |
— |
8,77 |
Tăng trưởng cao |
| Tỷ trọng GDP Nông - Lâm - Thủy sản (Khu vực I) |
— |
— |
38,74 (năm 1990) |
21,83 |
| Tỷ trọng GDP Công nghiệp - Xây dựng (Khu vực II) |
— |
— |
22,67 (năm 1990) |
39,95 |
- Huy động vốn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng vốn tín dụng trung và dài hạn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 5,6% (giai đoạn 1991-1995) lên gần 12% (1996-1997), tương đương 3,4% GDP. Đa dạng hóa các công cụ huy động vốn (tiết kiệm có kỳ hạn, trái phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư phát triển). Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ rệt: Khu vực I giảm từ 38,74% (1990) xuống 21,83% (2003), Khu vực II tăng từ 22,67% (1990) lên 39,95% (2003). Về đối ngoại, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Ngân hàng Trung ương Pháp và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thành lập nhóm nước hỗ trợ vốn cho Việt Nam.
- Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân:
- Hạn chế: Kiểm soát lạm phát thiếu bền vững (năm 2004 lạm phát tăng trở lại do dịch cúm gia cầm làm giảm 1% tăng trưởng GDP, giá dầu thế giới tăng, tâm lý đổi tiền mệnh giá lớn và đầu cơ thép/thuốc chữa bệnh); khả năng huy động vốn chưa đồng đều giữa các vùng; quản lý vốn nước ngoài ngắn hạn lỏng lẻo; thanh tra nội bộ kém hiệu lực; hiệu quả đầu tư tín dụng thấp, nợ quá hạn tăng, đầu tư dàn trải mất cân đối (nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, sản xuất bia), cấp phép xuất khẩu thép, xi măng ồ ạt dẫn đến ứ đọng vốn; nợ tồn đọng giữa các doanh nghiệp vượt mức 18.000 tỷ đồng.
- Nguyên nhân: Mối quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh chưa rạch ròi, vẫn còn tình trạng coi nhau ngang hàng (đặc biệt ở cấp tỉnh); trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ tín dụng bị sa sút dẫn đến tham ô, thông đồng sai phạm; cơ quan quản lý thiếu dứt khoát trong xử lý vi phạm sau thanh tra.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực điều tiết của Ngân Hàng Nhà Nước
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp xuất phát từ Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và IX:
- Quan điểm và định hướng phát triển đến năm 2010: Nhịp độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt 10-15%/năm; đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 40-41% GDP, giải quyết 23-24% việc làm; xuất khẩu công nghiệp đạt 70-75% tổng kim ngạch; huy động 20-21% GDP vào ngân sách; khống chế bội chi dưới 4,5% GDP. Đối với ngành ngân hàng: duy trì mức tăng trưởng phương tiện thanh toán bình quân 15-20%/năm; nâng tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn lên 55% tổng dư nợ; kiểm soát nợ quá hạn theo chuẩn quốc tế dưới mức 4% tổng dư nợ rủi ro.
- Các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Quản lý tín dụng: Điều tiết khối lượng và chất lượng tín dụng phù hợp với nhu cầu lưu thông; nghiên cứu cơ chế tăng vốn tự có cho ngân hàng thương mại để liên doanh, góp vốn vào các tập đoàn, tổng công ty thành lập theo Quyết định 90, 91 của Thủ tướng Chính phủ; tổ chức tổng điều tra chất lượng tín dụng trên toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại.
- Tăng cường công tác thanh tra: Khắc phục tính hình thức của các cuộc thanh tra theo chương trình; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phân định quyền hạn, giao trách nhiệm cụ thể cho Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh/thành phố trong việc kiểm tra, xử lý vi phạm của ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn.
- Nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ: Đào tạo toàn diện cả về lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật (chú trọng tin học và ngoại ngữ); xử lý kỷ luật nghiêm khắc các trường hợp cán bộ thoái hóa, biến chất, lừa đảo, trục lợi; chuẩn hóa tiêu chuẩn đào tạo lãnh đạo ngân hàng theo quy hoạch.
- Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thanh toán bù trừ, mở rộng tiện ích ngân hàng phục vụ doanh nghiệp và dân cư, đặc biệt khu vực nông nghiệp nông thôn.
- Các giải pháp bổ trợ khác: Tăng cường nghiên cứu kinh tế phục vụ hoạch định chính sách tiền tệ; siết chặt quản lý thị trường ngoại hối và phát triển hợp lý mạng lưới chi nhánh ngân hàng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:
- Kết quả nghiên cứu chính kèm dữ liệu:
- Làm rõ quá trình chuyển dịch mô hình ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp qua các mốc pháp lý: Chỉ thị 218 (1987), Nghị quyết 53/HĐBT (1988), và Hai Pháp lệnh Ngân hàng (1990) với mức vốn điều lệ 200 tỷ đồng cấp cho mỗi ngân hàng thương mại quốc doanh.
- Phân tích hiệu quả của "liệu pháp sốc" lãi suất tháng 3/1989 và việc tăng dự trữ bắt buộc từ 10% lên 35%, giúp tăng số dư tiền gửi tiết kiệm từ 1.303 tỷ đồng (1988) lên 4.127 tỷ đồng (1989), chặn đứng lạm phát ba con số (từ 349,4% năm 1988).
- Phản ánh thực trạng tăng trưởng tín dụng trung - dài hạn (từ 5,6% giai đoạn 1991-1995 lên 12% giai đoạn 1996-1997) và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế (Khu vực I giảm từ 38,74% năm 1990 xuống 21,83% năm 2003; Khu vực II tăng từ 22,67% lên 39,95%).
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế như nợ tồn đọng giữa các doanh nghiệp trên 18.000 tỷ đồng, đầu tư lãng phí vào các nhà máy xi măng lò đứng, mía đường, sản xuất bia và tác động làm giảm 1% GDP của dịch cúm gia cầm năm 2004.
- Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi cho Ngân hàng Nhà nước: siết chặt quản lý tín dụng kết hợp mở cuộc tổng điều tra an toàn nợ; đổi mới và phân quyền thanh tra cho cấp tỉnh; đào tạo và xử lý kỷ luật cán bộ; hiện đại hóa công nghệ thanh toán; đẩy mạnh nghiên cứu kinh tế vĩ mô; quản lý ngoại hối và mở rộng mạng lưới chi nhánh.
- Đóng góp tự nêu của tác giả: Khóa luận hệ thống hóa hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong quá trình Đổi mới, vận dụng bài học kinh nghiệm quốc tế (Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản) vào điều kiện đặc thù của Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực điều tiết của Ngân hàng Nhà nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi dữ liệu thực tiễn dừng lại ở mốc thời gian đầu năm 2005; các phân tích về công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp (nghiệp vụ thị trường mở, phái sinh ngoại hối) mới ở mức độ nguyên lý và bước đầu tiếp cận do thị trường tài chính, thị trường vốn và doanh nghiệp cổ phần tại Việt Nam thời kỳ này chưa phát triển hoàn chỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu cơ chế vận hành độc lập hơn của Ngân hàng Trung ương theo kinh nghiệm Nhật Bản; hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất và tỷ giá hoàn toàn theo tín hiệu thị trường; đánh giá tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết tài chính khi Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại thế giới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Kinh tế chính trị, Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế cần tìm hiểu về lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam.
- Người làm nghiên cứu: Cung cấp tư liệu thực chứng về các đợt cải cách giá - lương - tiền, biện pháp xử lý lạm phát phi mã giai đoạn 1986-1989, và bài học quản lý dòng vốn nước ngoài sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.
- Phần nội dung giá trị nhất: Phần tổng hợp lịch sử phân định chức năng ngân hàng hai cấp qua các văn bản pháp quy (Nghị quyết 53/HĐBT, Hai Pháp lệnh 1990) và số liệu so sánh lạm phát - tăng trưởng giai đoạn 1986-2004.
Câu hỏi thường gặp
1. "Liệu pháp sốc" mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng vào tháng 3/1989 để dập tắt lạm phát phi mã gồm những biện pháp cụ thể nào?
Ngân hàng Nhà nước đã nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên mức thực dương cao hơn tỷ lệ lạm phát hàng tháng (lãi suất tiền gửi trung bình tháng đạt 9% vào quý II/1989 so với 7% cuối năm 1988), đồng thời nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại từ 10% lên 35% tổng số vốn huy động nhằm thắt chặt tiền tệ và thu hút dòng tiền nhàn rỗi trong xã hội.
2. Mô hình ngân hàng hai cấp tại Việt Nam chính thức được thí điểm và ban hành rộng rãi qua những văn bản pháp lý nào?
Mô hình ngân hàng hai cấp được thí điểm đầu tiên tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 218 ngày 13/07/1987, sau đó mở rộng ra phạm vi toàn quốc theo Nghị quyết 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, và hoàn thiện thể chế pháp lý thông qua Hai Pháp lệnh về Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 01/10/1990.
3. Theo phân tích trong khóa luận, bài học đắt giá nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 của Thái Lan đối với Việt Nam là gì?
Đó là không nên tự do hóa quá vội vã thị trường vốn ngắn hạn; việc dòng tư bản ngắn hạn nước ngoài tràn vào ồ ạt sẽ gây ra hiện tượng "thừa vốn", dẫn đến đầu tư lãng phí, hâm nóng thị trường bất động sản, và khi dòng vốn bị đảo ngược đột ngột sẽ gây sụp đổ hệ thống tài chính (minh chứng là Thái Lan phải đóng cửa 58 chi nhánh ngân hàng và công ty tài chính với tỷ lệ nợ xấu lên đến 15%).
4. Khóa luận nêu những nguyên nhân chủ quan nào dẫn đến tình trạng nợ quá hạn và sai phạm tín dụng kéo dài trong hệ thống ngân hàng?
Khóa luận chỉ ra ba nguyên nhân chính: (1) Mối quan hệ quản lý giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại quốc doanh chưa được phân định rạch ròi, còn tư tưởng coi nhau ngang hàng; (2) Trình độ và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ tín dụng bị sa sút, dẫn đến hiện tượng móc ngoặc, tham ô; (3) Công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước còn buông lỏng, mang tính hình thức và thiếu kiên quyết trong xử lý các vi phạm đã phát hiện.
5. Mục tiêu hoạt động tiền tệ - ngân hàng giai đoạn 2001 - 2010 được đề ra trong văn bản là gì?
Mục tiêu bao gồm: ổn định giá trị đồng tiền; duy trì tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán bình quân 15-20%/năm; nâng tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn từ dưới 40% lên 55% tổng dư nợ; và kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn tính theo tiêu chuẩn quốc tế không vượt quá 4% tổng dư nợ rủi ro.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Lương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò quản lý vĩ mô của Ngân hàng Trung ương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực tiễn từ năm 1986 đến 2004, công trình đã làm rõ những thành tựu nổi bật trong kiểm soát lạm phát, huy động vốn, đồng thời chỉ ra các tồn tại về nợ quá hạn, thanh tra và năng lực cán bộ của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các phương hướng và 7 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận bám sát định hướng của Đại hội Đảng VIII, IX, mang lại giá trị học thuật và tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu kinh tế chính trị thời kỳ Đổi mới.