CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM Lịch sử kinh tế thế giới đã trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau từ Công Xã Nguyên Thuỷ đến Chiếm Hữu Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản Chủ Nghĩa và ngày nay là Chủ Nghĩa Xã Hội ở một số quốc gia trên các châu lục. Với sự tan rã của công xã nguyên thuỷ, sản xuất hàng hoá xuất hiện, các quan hệ tín dụng từng bước được hình thành và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu vốn cho việc mở rộng sản xuất và giao lưu kinh tế. Theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá, các quan hệ vay mượn có thêm tính chất mới, tính chất kinh doanh - và do Ngân hàng đứng ra làm môi giới trung gian. Vậy Ngân Hàng ra đời và phát triển như thế nào? 1,1.
Quá trình hình thành và phát triển của Ngân Hàng 1. Lịch sử ra đời của Ngân Hàng Lịch sử ra đời của các Ngân Hàng gắn lién với lịch sử phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá và lịch sử phát triển của tiền tệ, của các kiểu thiết chế Xã hội. Hoạt động của Ngân hàng thuở ban đầu có nguồn gốc từ hoạt động lưu giữ hộ, thanh toán chỉ trả hộ và tiếp đến là sự phát triển hoạt động cho vay và các hoạt động khác. Những hoạt động này bắt đầu với đối tượng là của cải thực, tiển vàng rồi tiền giấy.
Những Ngân hàng xã hội hoá cao độ ngày nay đã phát triển từ địavị người giữ hộ. Những Ngân hàng tư nhân nhỏ hoạt động theo vùng đã trở thành những tập đoàn ngân hàng và tài chính khổng 16 ngày nay. Có thể nói Ngân Hàng là tư ban cho vay được chuyên nghiệp hóa. Lê Nin đã lý luận về tư bản cho vay , đó là “tư bản tài chính” và người nhận xét : “ các nhà Ngân Hang dan dan cũng phát triển và tập trung vào một số ít cơ quan thì càng biến đổi đi từ vai trò trung gian trở thành những tổ chức độc quyển van năng, sử dụng đầu tư hầu hết tổng số tư bản tién tệ” [1S 430,431].
Từ trước công nguyên, khi các thiết chế xã hội mới bất đầu hình thành, các hoạt động kinh tế đã khá phát triển, hoạt động thương mại trên đà phát triển, một tầng lớp thương nhân giàu có ra đời. Một cách tự phát họ tìm nơi an toàn để nhờ giữ hộ của cải mà họ tích luỹ được: vàng, bac, đá quý. Những nơi cất giữ an toan là các nhà thờ, những người thợ vàng, các nhà quyển thế, các ban hội có thế lực. Những người gửi vàng bạc, của cải vào các nơi cất giữ ấy được nhận một biên nhận xác nhận số tài sản mà họ gửi vào đấy.
Đến kỳ hạn thì lấy ra và tất nhiên phải trả cho những nơi cất giữ đó một chi phí nhất định. Người gửi tài sản có thể ding biên nhận đó để thanh toán cho người khác và số tài sản ký gửi đó, người thụ hưởng sẽ được quyển sử dụng. Đó là cách thức thanh toán “không dùng tién mặt” đầu tiên ra đời. Do kinh tế ngày càng phát triển, yêu cầu thanh toán, chi trả lớn hơn và tiền tệ ra đời với tư cách là phương tiện chi trả.
Người ta đã đúc vàng bạc ra thành những trọng lượng khác biểu thị những đơn vị tién tệ lớn nhỏ khác nhau để tiện cho việc thanh toán. Tuy nhiên, việc chi trả bằng hiện vật hoặc bằng tién vàng này bất tiện là dễ mất mát hao mòn, khó di chuyển. Do đó người ta đã nghĩ đến việc phát hành ra tiễn giấy khả hoán. Lúc này, người giữ hộ tiền phát hiện ra rằng: luôn có một lượng tién lớn va tài sản nhàn rỗi nơi họ, vì thế họ đem số tiển này cho vay kiếm lời.
Hoạt động cho vay như vậy diễn ra chủ yếu dưới hình thức phát hành ra các chứng thư (tién giấy) gửi tiển cho ai cẩn chi tiêu mặc di họ không có vàng gửi vào, đây là sự phát hành tién tín dụng. Việc cho vay trở thành nguồn mang lại lợi ích chính đối với những người giữ hộ và thanh toán hộ. Những ai sẵn sàng gửi vào Ngân Hàng một số tiển có thời hạn cụ thể mới rút ra sẽ được Ngân Hàng trả cho một khoản lợi tức khi đáo hạn, mà ngày nay gọi là lãi tiển gửi. Những ai gửi tiền vào để sử dụng việc thanh toán của Ngân Hàng cho tiện thì Ngân Hàng không trả lãi.
Từ đó có sự phân biệt tién gửi có kỳ hạn và tién gửi không kỳ hạn. Đến đây có thể nói rằng, những người giữ tiền hộ đã trở thành những nhà ngân hàng thực thụ với ba nghiệp vụ cơ bản: nhận tiền gửi ( nhận ký thác), thanh toán hộ và cấp tín dụng cho khách hàng của mình. Tuy nhiên, có nhiều vấn để mâu thuẫn trong suốt quá trình phát triển của hoạt động Ngân Hàng, mà một số mầm mống đã có từ trước. Trong đó phải kể đến hai mâu thuẫn cơ bản: Một là: Khi có vô số Ngân Hàng đều có quyển phát hành tiển thì rất khó kiểm soát số lượng tiển phát hành ra, khó kiểm soát việc lạm dụng phát hành tiển.
Khi việc lưu thông tiển vàng bị loại trừ dẫn song song với việc bành trướng của lưu thông tién giấy và các dấu hiệu giá trị khác thì sự lạm dụng phát hành sẽ kéo theo vô số hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế. Đó là tình trạng lạm phát và những đổ vỡ kinh tế. Hai là: Trong thực tế, nhiễu nhà kinh doanh tién tệ đã cấp ra một lượng tin dụng quá lớn mà không thu hồi được dẫn đến tình trạng mất khả năng chỉ trả. Sự đổ vỡ của các Ngân Hàng không chỉ đơn thuần làm thiệt hại đến quyển lợi của người đầu tư vốn thành lập Ngân Hang mà còn làm thiệt hại cho cả người gửi tiển vào Ngân Hàng và những hậu quả khác.
Nhằm bảo vệ quyển lợi của người gửi tiển, người đầu tư cũng như để có sự thống nhất trên phạm vỉ quốc gia về tiển tệ và giám sát đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động Ngân Hàng, các nhà nước Phương Tây một mặt đã quy định chỉ một vài Ngân Hàng phát hành tiển giấy, còn các Ngân Hàng khác chỉ thuần tuý làm nghiệp vụ kinh doanh tiển tệ mà thôi. Trong thời kỳ tiếp sau, chức năng phát hành tiển chỉ một Ngân Hàng duy nhất đảm nhiệm đó là Ngân Hàng Trung Ương( Ngân Hàng Nhà Nước) và kiêm luôn việc giám sát hoạt động kinh doanh của các Ngân Hàng. Hệ thống Ngân Hàng hai cấp gồm Ngân Hàng Trung Ương với chức năng đặc biệt là độc quyển phát hành tién giấy, còn các Ngân Hàng khác làm nhiệm vụ kinh doanh đã lin lượt ra đời ở các nước phát triển, cả ở Phương Tây và Phương Đông từ cuối thế kỷ XIX trở lại đây. Ngân Hàng Thương Mại phát triển mạnh trong nền kính tếthị trường.
Ngân Hàng Thương Mại có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh tế. Trong các nước phát triển, hầu như không có công dân nào không có quan hệ giao dịch với một Ngân Hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động, dịch vụ của Ngân Hàng Thương Mại càng đi vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và của đời sống con người. Mọi công dân đều chịu tác động của Ngân Hàng, dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay, hay đơn giản là người đang làm việc cho một Doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ của Ngân Hàng.
Thế nhưng không bỗng nhiên Ngân Hàng hiện ra trong nền kinh tế. Ngân hàng đã di từ bước hình thành cực kỳ thô sơ và chính nhu cẩu phát triển của xã hội và nén kinh tế đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động Ngân Hàng không ngừng được cải thiện, nâng cao cả vé thực hành lẫn lý thuyết để có được như ngày hôm nay. Trong các Ngân Hàng thế giới hệ thống các Ngân Hàng Thương Mại chiếm vị tri quan trọng nhất về quy mô tài sản và thành phần các nghiệp vụ. Hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại bao gồm 3 lĩnh vực : Nghiệp vụ nợ (huy động vốn), Nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và Nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn thông tin, giữ hộ chứng từ, vật quý giá) ba loại này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo nên uy tín cho Ngân Hàng.
Tầm quan trọng của Ngân Hàng Thương Mại được thể hiện qua các chức năng của nó: - Chức năng trung gian tài chính : Đây là hoạt động “cầu nối” giữa cung và cẩu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng một cách sinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi. Thực hiện chức năng này, một mặt Ngân Hàng Thương Mại huy động và tập trung các nguồn vốn tién tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội. Như vậy, Ngân Hàng Thương Mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
- Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán : Là thủ quỹ của các Doanh nghiệp, tức là Ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả theo lệnh của chủ tài khoản. Chức năng này g4n bó hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng. Trong khi làm chức năng trung gian thanh toán Ngân Hàng đã tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyển quản lý các công cụ đó, đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chỉ phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy lưu thông hàng hoá. Việc làm trung gian thanh toán của Ngân Hàng ngày nay đã phát triển đến mức đa dạng, không chỉ làm trung gian thanh toán kiểu truyền thống như trước mà còn quản lý các phương tiện thanh toán.
Các Ngân Hàng Thương Mại từng bước trang bị đẩy đủ các máy vi tính và phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện thanh toán bd trừ được nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác.