chương I luận văn nhằm giới thiệu và giải thích cấu trúc xã hội của các nhà nước cổ đại tại Nam bộ ngày nay. Thông qua đó, tác giả đưa ra luận giải về tính chất văn hóa của vùng đất này và cách mà họ Mạc tại Hà Tiên cải biến nó để thỏa mãn những nhu cầu thiết lập một nền văn hiến nơi miền biên viễn. Trong phạm vi luận văn, tác giả xin được đồng nhất thuật ngữ Indianization bằng Ấn hóa. Thuyết Việt hóa hoặc Việt Nam hóa (Vietnamization): Hai ảnh hưởng văn hóa mạnh nhất đến Đông Nam Á là Hoa hóa và Ấn hóa.
Tuy nhiên, người Việt trong suốt tiến trình lịch sử, dẫu có đón nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài, vẫn luôn cố gắng tạo 6 dựng một bản sắc riêng biệt nhằm tách biệt với các nền văn hóa khác. Nỗ lực Việt hóa đã có từ buổi ban đầu dựng nước, từ các nỗ lực giải Hoa hóa và cũng đã hiện diện trong tiến trình mở cõi ở Đàng Trong. Mặc dù vậy, quá trình Việt hóa tại Nam bộ khi đó vẫn chưa thật sự rõ ràng và bị tiến trình Hoa hóa lấn át do sự hiện diện của quá nhiều thế lực chính trị Minh hương buổi ban đầu mở cõi. Việt hóa sẽ được thảo luận ở chương III, khi mà vai trò của Mạc Thiên Tích lẫn các thế lực chính trị Minh hương tại Nam bộ suy giảm, nhường bước cho tiến trình Việt hóa mạnh mẽ dưới thời các bậc quân chủ triều Nguyễn.
Tiến trình Hoa hóa do đó sẽ được chứng minh là viên gạch nối để người Việt tiến hành Việt hóa mạnh mẽ sau khi giang sơn đã thu về một mối. Các hoạt động Việt hóa tại Nam bộ được thảo luận trong luận văn bao gồm các hoạt động khuyến khích người Hoa “nhập quốc tịch Việt”, sự thay đổi các cơ quan hành chính, gia tăng nhân khẩu và ảnh hưởng về kinh tế lẫn quân sự của người Việt tại Nam bộ. Các hoạt động diễn ra chủ yếu dưới thời vua Minh Mạng. Trong phạm vi luận văn, tác giả xin được đồng nhất thuật ngữ Vietnamization bằng Việt hóa.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4. Các tài liệu trong nước Các ghi chép trong nước liên quan đến Hà Tiên bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVIII và XIX. Công trình sớm nhất có thể kể đến là “Phủ biên tạp lục” gồm sáu quyển được Lê Quý Đôn viết năm 1776 nhắc đến Hà Tiên và Mạc Thiên Tích ở quyển IV, V và VI. Sau đó, ông tiếp tục viết “Kiến văn tiểu lục” cũng có đề cập đến Hà Tiên.
Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, ông lệnh cho Vũ Thế Dinh viết “Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả” kể về dòng họ Mạc. Trịnh Hoài Đức soạn bộ “Gia Định thành thông chí” trong đó có đề cập đến trấn Hà Tiên, thời gian công trình này được biên soạn dao động giữa thời vua Gia Long và Minh Mạng. Vua Thiệu Trị cho biên soạn “Đại Nam Thực lục” gồm hai phần là Tiền biên ghi chép các sự kiện đời chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần và Chính biên ghi chép giai đoạn các vua triều Nguyễn trị vì. Các ghi chép 7 về họ Mạc và Hà Tiên được tác giả khảo cứu đều nằm ở phần Tiền biên.
Vua Tự Đức cho soạn “Đại Nam Nhất thống chí”, đây được xem là công trình đầy đủ nhất về địa chí Việt Nam giai đoạn này, Hà Tiên lúc này trở thành tỉnh chứ không còn là trấn nữa. Vai trò của người Việt và người Hoa trong tiến trình mở cõi Nam bộ được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu trước 1975 có thể kể đến gồm Đông Hồ với hai bài khảo luận về Hà Tiên trên tạp chí Nam Phong “Hà Tiên Mạc thị sử” (1929) và “Chuyện cầu Tiên ở đất Phương Thành” (1932) đăng trên Nam phong Tạp chí. Hai bài khảo luận thảo luận về các hoạt động văn hóa, thương mại và chính trị của họ Mạc, mà chủ yếu là Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích tại Hà Tiên.
Các hoạt động của họ Mạc đặc biệt là chuyện cầu Tiên là một trong những dữ liệu quan trọng giúp tác giả chứng minh tính Hoa hóa mạnh mẽ tại Hà Tiên kể từ khi họ Mạc bắt đầu tạo dựng dấu ấn của mình. Ca Văn Thỉnh đăng “Minh bột di ngư - Một quyển sách hai thi xã” (1943) trên Đại Việt tập chí, ông có công sưu tầm và dịch lại công trình này sang chữ Quốc Ngữ và thảo luận về đánh giá của Trịnh Hoài Đức đối với Mạc Thiên Tích. Ngoài các bài khảo luận, Đông Hồ còn cho xuất bản hai quyển “Hà Tiên thập cảnh - đường vào Hà Tiên” (1960) và “Văn học miền Nam - Văn học Hà Tiên” (1970). Đây là hai công trình nổi bật của Đông Hồ.
Ông biên dịch, hiệu đính Hà Tiên thập vịnh cũng như phân tích về nguồn gốc các thành viên Chiêu Anh Các, tiểu sử Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, mối quan hệ giữa Hà Tiên và Đàng Trong lúc bấy giờ. Phan Phát Huồn và Phan Khoang thuật lại quá trình mở cõi của họ Nguyễn trong “Việt Nam giáo sử - Quyển I” (1965) và “Việt sử: Xứ Đàng Trong” (1969). Hãn Nguyên viết “Hà tiên, chìa khóa Nam tiến của dân tộc Việt Nam xuống đồng bằng sông Cửu Long” (1970), ông thảo luận về việc đưa Hà Tiên vào vòng “giáo hóa” của Đàng Trong giúp người Việt tiến xuống Đàng Trong nhanh hơn và ít gặp khó khăn do có sự hỗ trợ đắc lực từ Mạc Thiên Tích. Nguyễn Hiến Lê viết “Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm” (1971) trong tuyển tập “Mười câu chuyện văn chương”, ông ca ngợi về việc họ Lâm, mà cụ thể là Lâm Tấn Phát - tức thi sĩ Đông Hồ, đã kế thừa tinh thần văn hiến của họ Mạc để tiếp tục đóng góp cho công cuộc phát triển văn hóa - giáo dục 8 tại cõi biên thùy này.
“Văn học Nam Hà” (1972) được Nguyễn Văn Sâm viết, ba trong số thi nhân được ông nhắc đến gồm có Đào Duy Từ, Mạc Thiên Tích và Nguyễn Cư Trinh. Tác giả sử dụng dữ liệu từ ba nhân vật nói trên nhằm chỉ ra sự tương đồng trong thơ văn của họ. Sau 1975, Nguyễn Kim Hưng thảo luận về số lượng thành viên Chiêu Anh Các và đặt nghi vấn về sự hiện diện trực tiếp của họ trong “Một vài nghi vấn về Chiêu Anh Các” (1983). Mai Văn Tạo viết “Hà Tiên một cõi biên thùy, một cõi thơ” (1998) ca ngợi vẻ đẹp vật chất lẫn tinh thần của cõi này cũng như tầm quan trọng của thơ văn Chiêu Anh Các đối với nền văn học dân tộc.
Nguyễn Lang viết “Việt Nam Phật giáo sử luận” (1992), ông có đề cập đến các nhà sư Trung Hoa sang Đàng Trong hoằng hóa. Nguyễn Tiến Cường trong “Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến” (1998) phân tích khía cạnh trọng Nho của chúa Nguyễn có xu hướng tăng dần theo thời gian. Nguyễn Cẩm Thúy viết “Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ thế kỷ XVII đến năm 1945)” (2000) phân tích về sự hiện diện của người Hoa và các hoạt động của họ tại Nam bộ. Bùi Duy Tân trong “Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam” (2001) có nhắc về Mạc Thiên Tích và vai trò của Chiêu Anh Các đến nền văn hiến ở Hà Tiên.
Trương Minh Đạt có xuất bản 2 cuốn “Nhận thức mới về đất Hà Tiên” (2001) và “Nghiên cứu Hà Tiên” (2008), ông nghiên cứu toàn diện về lịch sử Hà Tiên qua các đời họ Mạc lẫn các hoạt động kinh tế, quân sự, giáo dục, … Ngoài ra, Trương Minh Đạt còn đóng góp hai bài nghiên cứu “Nền kinh tế Hà Tiên thời Mạc Cửu” (1999) và “Họ Mạc trong thời kỳ đầu khai sáng đất Hà Tiên” (2001) phân tích thời điểm Mạc Cửu xuất hiện và đóng góp kinh tế của ông buổi ban đầu ở Hà Tiên. Cao Tự Thanh viết “Hà Tiên quá khứ và tương lai” (2004) và “Mười bài Hà Tiên thập vịnh của Dư Tích Thuần” (2006). Ông phân tích vai trò của hai thành viên tiêu biểu trong Chiêu Anh Các là Trần Hoài Thủy và Dư Tích Thuần cũng như nêu bật tính kết nối của Hà Tiên trong công cuộc Nam tiến của người Việt. Huỳnh Minh và Cao Tự Thanh lần lượt viết “Gia Định xưa” (2006) và “Nho giáo ở Gia Định” (2013), cả hai thảo luận về những dấu ấn văn hóa - giáo dục của vùng đất Gia Định thuở khai hoang 9 mở đất và giai đoạn trở thành trung tâm của Nguyễn Ánh vào cuối thế kỷ XVIII.
Nguyễn Văn Kim viết “Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác quyền lực khu vực” (2006) chỉ ra mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và nhóm người Minh hương ở Nam bộ, trong đó có họ Mạc. Ngoài ra, ông còn nghiên cứu về các tôn giáo của Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp trong “Mối quan hệ giữa Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp” (2011) nhằm chỉ ra tính Ấn hóa mạnh mẽ nhìn từ khía cạnh tôn giáo của Chân Lạp vào thế kỷ VIII. “Lịch sử Việt Nam” (2007) là bộ sách được Viện sử học biên soạn, ở quyển “Lịch sử Việt Nam tập IV: Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII” có đề cập đến hệ thống khoa cử Đàng Trong. Các luận văn trong nước đề cập đến vai trò của Mạc Thiên Tích trong công cuộc phát triển văn hóa - giáo dục tại Hà Tiên có thể kể đến “Quá trình hình thành và phát triển trấn Hà Tiên từ năm 1708 đến 1771” (2006) của Trần Nhất Linh; “Lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên (Thế kỷ XVII - XIX)” (2010) của Trần Việt Nhân; “Hà Tiên thập vịnh trong bối cảnh văn học Đàng Trong” (2013) của Trần Thiếu Nga; “Vùng đất Hà Tiên thế kỷ XVIII - XIX” (2014) của Lâm Trần Thứ,.
Bên cạnh đó, các luận văn “Quan hệ Đại Việt với Chân Lạp trước thế kỷ XX” (2009) của Lê Thị Mỹ Trinh; “Đông Nam bộ trong tiến trình mở đất phương Nam” (2014) của Nguyễn Ngọc Chúc chỉ ra các chính sách mà họ Nguyễn đã áp dụng trong tiến trình xuôi về phương Nam. Tác giả dựa vào đó để đối chiếu tính chất thương mại của Mạc Thiên Tích và các đời chúa Nguyễn, rằng thương mại không chỉ để gia tăng sự giàu có mà còn đó những tham vọng về hợp tác quân sự lẫn văn hóa - giáo dục. *Các luận văn nêu trên đều đề cập tổng thể đến đóng góp văn hóa, xã hội và kinh tế cho mảnh đất Hà Tiên cũng như quá trình sáp nhập Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam.