Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây khoai tây + Nguồn gốc và lịch sử phát triển của khoai tây. Khoai tây thuộc họ cà, có nguồn gốc từ dãy núi Andes. Nơi khởi thủy của cây khoai tây trồng ở quanh hồ Titicca giáp ranh thuộc Peru và Bolivia.
Những di tích khảo cổ tìm thấy ở vùng này đã tìm thấy cây khoai tây làm thức ăn cho người đã có từ thời đại 500 năm trước công nguyên. Những hóa thạch củ khoai tây khô và những đồ vật hình dáng khoai tây có khá nhiều ở thế kỷ thứ II sau công nguyên. Hiện nay, ở dãy núi Andes còn có rất nhiều loài khoai tây hoang dại, bán hoang dại, loài khoai tây trồng (Trương Văn Hộ, 2010) [5]. Người Tây Ban Nha phát hiện ra cây khoai tây tại lưu vực sông Canca (Colombia), nơi thổ dân da đỏ cư trú vào năm 1538.
Cây khoai tây được du nhập vào Tây Ban Nha vào khoảng năm 1570. Từ đó khoai tây được truyền sang Italia, Đức. Vào cuối thế kỷ XVI, khoai tây được mang về trồng ở Mỹ. Năm 1586, một nhà hàng hải đem khoai tây về trồng ở Anh.
Năm 1785, khoai tây được mang về trồng ở Pháp. Từ đó khoai tây được đưa vào trồng ở các nước Châu Âu khác. Qua gần 100 năm khoai tây được trồng rộng rãi và phát triển rộng lớn ở Châu Âu, khoai tây được du nhập sang các nước ở các châu lục khác: Ấn Độ (1610), Trung Quốc (1700) (Đường Hồng Dật, 2004) [4]. Ở Việt Nam, khoai tây được đưa vào năm 1890 do những nhà truyền giáo người Pháp đem đến.
Trước năm 1970, khoai tây được trồng rải rác ở Sapa - Lào Cai, Đồ Sơn - Hải Phòng, Trà Lĩnh - Cao Bằng, Đông Anh - Phúc Yên, Đà Lạt - Lâm Đồng. Diện tích tất cả khoảng 3 nghìn ha. Thời gian này, khoai tây được coi là loại rau cao cấp (Trương Văn Hộ, 2010) [5]. + Đặc điểm trong sản xuất khoai tây.
Cây khoai tây là cây trồng ngắn ngày (khoảng 90 ngày) nhưng lại cho năng suất cao. Thời điểm sản xuất cây khoai tây được thực hiện sau khi thu hoạch song các cây trồng vụ mùa trên các chân ruộng 5 vàn, vàn cao, đất tơi xốp, đất cát pha, đất thịt nhẹ và đất phù xa phù hợp với các loại cây trồng ưa lạnh, khí hậu ôn đới. Do đó, điều kiện sản xuất, chăm sóc cây khoai tây có sự khác biệt với các loại cây trồng được sản xuất ở các vụ khác trong năm. + Giá trị dinh dưỡng của khoai tây.
Cây khoai tây là cây có giá trị dinh dưỡng cao như: Protein, đường, lipit và các loại vitamin B, vitamin C, khoáng chất,. và được chế biến thành nhiều sản phẩm, món ăn có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao.1: Giá trị dinh dưỡng của một số sản phẩm Sản phẩm Tỷ lệ protein sử dụng (% so với trứng) Trứng 100 Khoai tây 71 Đậu tương 56 Ngô 55 Bột mì 52 Đậu Hà Lan 44 (Nguồn: Beukema, Vander Zaag, 1979) Theo Beukema, Vander Zaag (1979) [11], nếu “tỷ lệ Protein sử dụng ở trứng gà là 100 thì ở khoai tây là 71, đậu tương là 56, ngô là 55, bột mỳ là 52 và đậu Hà Lan là 44”. Nên hiện nay trên khắp thế giới, từ khoai tây đã chế biến ra hàng trăm sản phẩm, món ăn khác nhau. Trong củ khoai tây có 2% protein bao gồm cả lysine (một axít amin thường không có trong protein thực vật) phối hợp tốt với ngũ cốc.
Theo Burton (1974) [12], thì “khi sử dụng 100g khoai tây có thể đảm bảo ít nhất 8% nhu cầu năng lượng, 10% nhu cầu Fe, 10% vitamin B1, 20 - 50% nhu cầu về vitamin C của một người/ngày”. + Vai trò của cây khoai tây. Khoai tây là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trong sản xuất, là cây vụ đông quan trọng trong công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa - cây vụ đông. Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng khoai tây thương phẩm ngày càng tăng do khoai tây được coi là sản phẩm sạch, người trồng khoai tây cũng có thu nhập cao hơn so với các loại cây trồng khác.
Thị trường tiêu dùng 6 hiện nay bao gồm khoai tây tươi cho chế biến trong gia đình và nhà hàng, cho chế biến trong nhà máy và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến phát triển. Bên cạnh đó, khoai tây còn được dùng làm nguyên liệu thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển. Cây khoai tây có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lương thực thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), cây khoai tây có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lương thực trên thế giới, là loài cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi - xếp sau lúa, lúa mì và ngô, năm 2009 là 330 triệu tấn.
Trong đó chỉ hơn 2/3 là thức ăn trực tiếp của con người, còn lại thức ăn cho động vật và nguyên liệu sản xuất tinh bột. Điều này cho thấy chế độ ăn hàng năm của mỗi công dân toàn cầu trung bình trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là 33 kg khoai tây. + Các yếu tố ảnh hưởng đến cây khoai tây. Cây khoai tây cũng như một số loại cây trồng khác trong năm, chịu ảnh hưởng bởi một số các yếu tố chủ yếu sau: * Nhiệt độ.
Cây khoai tây là cây yêu cầu khí hậu mát mẻ và ôn hoà. Mỗi một giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây chúng yêu cầu nhiệt độ khác nhau. Nhiệt độ thích hợp cho thân lá phát triển là 200C - 220C. Nếu nhiệt độ xuống thấp dưới 70C, cây khoai tây ngừng sinh trưởng.
Ở thời kỳ hình thành và phát triển củ nhiệt độ cần đạt được từ 150C - 220C, nhiệt độ thích hợp nhất là từ 160C - 180C. Trong điều kiện nhiệt độ cao, khoai tây thường kéo dài thời gian sinh trưởng và cho năng suất thấp (Đường Hồng Dật, 2004) [4]. Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho cây quang hợp để tích luỹ vật chất. Khoai tây là cây ưa ánh sáng, cường độ ánh sáng mạnh có lợi cho quá trình quang hợp của khoai tây, thúc đẩy tốt cho việc hình thành củ và tích luỹ hàm lượng chất khô.
Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển chúng yêu cầu ánh sáng khác nhau. Thời kỳ mọc mầm khỏi mặt đất đến lúc cây có nụ hoa, khoai tây yêu cầu ánh sáng ngày dài sẽ có lợi cho sự phát triển thân lá và thúc đẩy mạnh quá trình quang hợp. Đến thời kỳ hình thành tia củ chúng yêu cầu thời gian chiếu sáng ngắn (Đường Hồng Dật, 2004) [4]. Trong thời kỳ sinh trưởng phát triển khoai tây cần lượng nước lớn và phải được cung cấp thường xuyên.
Theo Ngô Đức Thiệu (1978) [7], giai đoạn từ khi trồng đến bắt đầu ra nụ hoa khoai tây yêu cầu 60% độ ẩm đồng ruộng, các giai đoạn sau chúng yêu cầu 80% và sẽ cho năng suất cao nhất. Trong điều kiện thiếu và thừa độ ẩm trong các giai đoạn trên thì rễ, thân, lá đều phát triển kém, củ ít, nhỏ chống chịu sâu bệnh kém dẫn đến năng suất thấp. * Đất trồng và dinh dưỡng. Khoai tây có khả năng thích ứng với nhiều loại đất khác nhau trừ đất thịt nặng và đất sét ngập úng.
Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp khả năng giữ nước và thông khí tốt là thích hợp nhất với khoai tây và sẽ cho năng suất cao nhất. Đất có pH từ 5-7, nhưng thích hợp nhất là 6 - 6,5. Độ pH cao hơn có thể bị bệnh ghẻ trên củ cho năng suất thấp (Nguyễn Văn Bộ, 2004) [1]. Yếu tố dinh dưỡng như lân, đạm, kali có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây khoai tây.
Theo Ngô Đức Thiệu (1978) [7], Đạm là nguyên tố cần thiết để hình thành tế bào mới cấu tạo nên các bộ phận như rễ, thân, lá, củ. Nếu bón không đấy đủ cây sẽ kém phát triển năng suất thấp, nhưng nếu bón quá nhiều đạm sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của cây làm mất cân đối giữa các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất đồng thời tạo điều kiện cho bệnh phát triển. Đối với lân có vai trò đặc biệt quan trọng giúp tăng cường quá trình sinh trưởng thân lá, quá trình hình thành tia củ sớm tăng số lượng củ và tăng năng suất. Lân cần trong giai đoạn đầu sinh trưởng của cây vì kích thích bộ rễ phát triển.
Thiếu lân sẽ làm cho cây phát triển không bình thường. Khoai tây cần nhiều kali hơn cả, nó có tác dụng làm tăng quá trình sinh trưởng, đặc biệt khả năng quang hợp và khả năng vận chuyển các chất về củ, tăng chất lượng củ, tăng khả năng chống chịu một số bệnh quan trọng trên củ. Một số khái niệm có liên quan + Sinh kế. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế.
Theo một số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người. Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ.
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai. Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho tương lai. Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động. Về cơ bản, các loại vốn sinh kế có 5 loại cơ bản là: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên.