CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG XE BUS NHANH 1.1 Hệ thống giao thông vận tải đô thị 1. Khái niệm và phân loại Hệ thống giao thông vận tải (GTVT) đô thị được hiểu là tập hợp các công trình, các phương tiện khác nhau và các con đường giao thông đảm bảo sự liên hệ giữa các khu vực với nhau. Nhiệm vụ của giao thông vận tải đô thị là vận chuyển hàng hóa và hành khách theo phương châm: nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. GTVT phát triển sẽ đống góp một phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đặc biệt là hiệu quả về kinh tế như: giảm chi phí vận tải, tăng khả năng vận chuyển hàng hóa và hành khách mà còn mang lại hàng loạt hiệu quả khác như: giảm ô nhiễm môi trường, giảm ách tắc giao thông và tai nạn giao thông trong thành phố.
Cơ sở vật chất kỹ thuật GTVT thành phố yêu cầu quỹ đất rất lớn thường là 18- 25% thậm chí có nơi đến 30% diện tích thành phố. Thành phố càng hiện đại, số lượng phương tiện vận tải đặc biệt là ô tô trên đầu người càng cao yêu cầu về quỹ đất càng lớn. Ngày nay, cùng với quá trình đô thị hóa, đầu tư cho GTVT đô thị hơn, cùng với đó là việc sử dụng nhiều hơn các nguồn tài nguyên, do đó phát sinh một yêu cầu đối với quá trình đầu tư và khai thác GTVT, đó là khái niệm bền vững trong GTVT, khái niệm được hiểu là: “Quá trình đầu tư và khai thác cơ sở vật chất hiện tại không làm triệt tiêu các cơ hội hoặc khả năng đầu tư phát triển nó trong giai đoạn tiếp theo”. Hiểu theo nghĩa này các quá trình đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cần tiết kiệm tối đa các nguồn lực và cần được quy hoạch, tính toán thiết kế một các chính xác, khoa học phù hợp từng giai đoạn Hệ thống GTVT đô thị được chia thành những bộ phận sau: 5 GTVT ĐÔ THỊ Hệ thống giao Hệ thống vận thông tải Giao thông Giao thông Vận tải Vận tải Vận tải động tĩnh hành khách hàng hóa chuyên dùng Vận tải Vận tải cá nhân công cộng Hình 1.
Sơ đồ hệ thống GTVT đô thị - Hệ thống giao thông động: Bao gồm các công trình đường sá, nút giao thông, cầu, cống, các công trình trên đường. - Hệ thống giao thông tĩnh: Bao gồm hệ thống bến bãi, điểm trung chuyển, điểm dừng phục vụ cho hoạt động của phương tiện. - Hệ thống vận tải chia làm 3 loại:Vận tải hành khách, vận tải hàng hóa, vận tải chuyên dùng, cả 3 loại trên có thể là vận tải công cộng hoặc vận tải cá nhân. Hệ thống vận tải bao gồm phương tiện, các công trình phục vụ hoạt động vận tải.
Nhu cầu đi lại và đặc tính nhu cầu đi lại của người dân đô thị Nhu cầu đi lại trong năm là số chuyến đi lớn nhất có thể của một người dân trong năm. Nhu cầu đi lại là một trong những nhu cầu cần thiết của con người là nhu cầu phát sinh, là kết quả khi con người muốn thõa mãn các nhu cầu khác thuộc lĩnh vực đời sống sản xuất. Chuyến đi: là sự di chuyển có mục đích của người dân với cự ly >500m. Nhu cầu đi lại của người dân có thể thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau: Đó là đi lại bằng phương tiện vận tải và đi bộ.
Trong nhu cầu đi lại người ta phân biệt các loại nhu cầu sau: - Nhu cầu đi lại có thể - Nhu cầu đi lại thực tế 6 - Nhu cầu đi lại bằng phương tiện vận tải cá nhân - Nhu cầu đi lại bằng phương tiện VTHKCC Nhìn chung nhu cầu đi lại phát triển theo xu hướng: mạnh, bão hòa, giảm dần. Giai đoạn phát triển mạng thường thấy ở các nước đang phát triển, khi đó tốc độ tăng trưởng rất nhanh.Giai đoạn bão hòa thường thấy ở các nước phát triển, tại các nước này nhu cầu đi lại tăng rất nhanh nhưng sau đó có xu hướng giảm dần, nguyên nhân do sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin. Luồng hành khách và công tác điều tra - Luồng hành khách: là số lượng hành khách di chuyển trên một hướng trong một đơn vị thời gian. - Công suất luồng hành khách: là số lượng hành khách trong 1 giờ và theo một hướng.
Mục đích nhiệm vụ của điều tra luồng hành khách Việc quy định tổ chức vận chuyển hành khách thành phố, xây dựng mạng lưới hành trình, phân phôi phương tiện theo hành trình và lập thời gian biểu, biểu đồ vận chuyển đều phải dựa trên các số liệu điều tra luồng hành khách có hệ thống và theo chu kỳ. Khi vạch ra công tác tổ chức hoạt động của vận tải thành phố, sử dụng tài liệu điều tra luồng hành khách cho phép đảm bảo phục cụ dân cư thành phố tốt nhất và sử sụng phương tiện trên đường hiệu quả nhất. Điều tra luồng hành khách có thể đem đến một đặc trưng tổng hợp, có nghĩa là bao trùm đồng thời tất cả các loại vận tải hành khách thành phố. Các phương pháp điều tra luồng hành khách Hiện nay có 2 phương pháp phổ biến: Phương pháp trực tiếp - Phương pháp điều tra phát thẻ: người ta phát cho hành khách khi lên xe một thẻ và ghi điểm lên xe, lúc hành khách xuống xe, người ta thu lại thu lại thẻ và ghi điểm xuống xe vào phiếu.
Phương pháp này cho phép xác định địa điểm quan trọng của hệ thống vận tải nhưng phương pháp này có nhược điểm là không xác định được số liệu về sự đổi chuyển của hành khách. Điều tra bằng phương pháp phát thẻ có thể tiến hành trên toàn 7 bộ mạng lưới hành trình cũng như trên hành trình. Phương pháp này đòi hỏi người tham gia lớn. - Phương pháp quan sât bằng mắt: tiến hành bằng cách tính gần đúng số lượng hành khách ở trong phương tiện vận tải trên từng đoạn của hệ thống hành trình.
Để xác định, người ta sử dụng hệ thống điểm. Mỗi điểm trong hệ thống tương ứng với mức sử dụng sức chứa phương tiện. Có nhiều hệ thống điểm nhung sử dụng nhiều nhất la hệ thống 5 điểm. Điểm 1 tương ứng với phương tiện chỉ được sử dụng ít hơn một nửa số chỗ dành để ngồi, điểm 5 tương ứng với giới hạn cho phép sử dụng sức chứa của phương tiện.
Các số liệu ghi chép được từ sự quan sát ở trong hay ngoài phương tiện, đây là phương pháp ít tốn kém nhất. Nhược điểm của phương pháp này là không xác định được số liệu về hướng hành khách và chiều dài chuyến đi của hành khách. - Phương pháp tự khai: phương pháp này tiến hành theo cơ sở thăm dò ý kiến của nhân dân hoặc là phát cho người dân phiếu điều tra, người nhận phiếu điều tra sẽ ghi vào đó nhận xét về hướng và tính chất các chuyến đi hàng ngày của họ. Các số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra này cho phép đánh giá tính hợp lý của việc sử dụng loại vận tải này hay kia, tính hợp lý của việc bố trí điểm đầu đỗ đầu, cuối tuyến và thời gian cần thiết cho chuyến đi của hành khách.
Sử dụng phương pháp này có thể điều tra toàn bộ thành phố, cho tưng vùng và từng xí nghiệp. Nhược điểm của phương pháp tự khai là các số liệu thu thập được không cho phép xác định sự chất tải thực tế của từng đoạn trên mạng lưới giao thông. Một biến tướng của phương pháp tự khai là thu thập số liệu tập trung và sử dụng để điều tra sự di chuyển đến nơi làm việc, xác định nhu cầu vận tải trong những giờ cao điểm nên cần phải biết quy luật di chuyển đến nơi làm việc của người dân trong thành phố. Phương pháp gián tiếp - Phương pháp thống kê: dựa vào số liệu thống kê, vé bán được ở các tuyến mà lái phụ xe ghi được trong ca làm việc, dựa vào số liệu này có thể xác định được khối lượng hành khách theo từng chặng và số lượng hành khách theo từng tuyến.
Phương pháp này có nhược điểm là là không đảm bảo đầy đủ số liệu thống kê thì không xác định chính xác được. 8 - Phương pháp sự báo: dựa vào số liệu thống kê qua các năm và các phương pháp toán học trong thống kê để xác định quy luật biến động và tìm ra khối lượng vận chuyển trong các năm tiếp theo. Ưu điểm của phương pháp này là kém chính xác và đòi hỏi số lượng lớn số liệu thống kê. Nghiên cứu sự biến động của luồng hành khách Khối lượng của luồng hành khách được xác định bằng sự di chuyển của người dân, sự bố trí các vùng dân cư, địa điểm sản xuất.
khối lượng hành khách còn phụ thuộc vào chính hệ thống giao thông. Luồng hành khách phân bố không đều trên mạng lưới giao thông. Sự biến động của luồng hành khách mang tính quy luật, có 3 laoij biến động luồng hành khách, đó là: Biến động theo thời gian Biến động của luồng hành khách theo thời gian trong ngày: lưu lượng hành khách thay đổi theo giờ tạo thành giờ cao điểm. Mức độ phân phối luồng hành khách không đồng đều theo thời gian trong ngày: Q max K (1.1) Q bq R Q max Q bq (1.2) Trong đó: - Qmax: khối lượng hành khách vào giờ cao điểm (HK) - Qbq: khối lượng hành khách bình quân mỗi giờ (HK) Quy luật biến động hành khách theo ngày trong tuần: hình thành bởi sự thay đổi số lượng chuyến đi đến nơi làm việc và để sinh hoạt mà do người dân thực hiện trong từng ngày trong tuần.
Trong tuần các chuyến đi vào ngày nghỉ thường có số lượng ít hơn các chuyến đi vào ngày làm việc. Biến động theo không gian Sự phân phối của luồng khách không đều trên mạng lưới giao thông dẫn tới sự phân phối luồng khách không đều theo chiều dài hành trình. Phụ thuộc vào đặc điểm phân phối luồng khách nên có sự chất tải không đồng đều theo chiều dài tuyến. Mức độ phân phối luồng khách không đồng đều theo hành trình được đặc trưng bởi các hệ số không đồng đều theo hành trình: 9 Qmax K (1.3) Qmin R Qmax Qmin (1.4) Trong đó: - Qmax: khối lượng hành khách lớn nhất trên đoạn chất tải lớn nhất (HK) - Qmin: khối lượng hành khách nhỏ nhất trên đoạn chất tải nhỏ nhất (HK) Biến động theo chiều (hướng) Sự phân phối luồng hành khách không đồng đều trên các đoạn của hành trình trong giờ cao điểm được tăng lên bởi phân phối không đều theo hướng.