CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. CỔ PHIẾU VÀ CÁC LOẠI GIÁ CỔ PHIẾU 1. Khái niệm về cổ phiếu Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, xác nhận quyền sở hữu của cổ đông với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông.
Cổ đông nắm giữa cổ phiếu thường là một trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh. Theo Luật Chứng khoán Việt Nam 2006, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Đặc điểm của cổ phiếu - Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn, không có kỳ hạn và không hoàn vốn. - Cổ tức của cổ phiếu tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chính sách cổ tức, do đó không xác định.
Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt, cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Nhưng ngược lại, cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có khi công ty làm ăn thua lỗ. - Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. - Giá cổ phiếu biến động nhanh, đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Các loại cổ phiếu Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông (thường) và cổ phiếu ưu đãi. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào cổ phiếu phổ thông. Phần lớn cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu phổ thông với những đặc điểm nêu trên, nhưng đôi khi công ty cũng phát hành những loại cổ phiếu thường với những đặc điểm riêng từ sự khác biệt liên quan đến quyền bầu cử hay quyền được hưởng cổ tức. Lý do các công ty phát hành các loại cổ phiếu phổ thôngkhác nhau là vì muốn trao quyền bầu cử cho một nhóm cổ đông xác định, vì thế, cổ phiếu phổ thông khác loại nhau sẽ thể hiện quyền bầu cử khác nhau.
Ví dụ, một nhóm cổ đông nắm giữ một loại cổ phiếu thường có quyền biểu quyết tương đương với 10 phiếu bầu trong khi đó loại thứ hai được phát hành với 1 phiếu bầu/cổ phiếu. Khi một công ty phát hành nhiều hơn một loại cổ phiếu thường, thông thường sẽ phân thành “cổ phiếu thường loại A” và “cổ phiếu thường loại B”. Ví dụ: công ty Bershire Hathaway của tỷ phú Warren Buffett (mã chứng khoán tại Sở giao dịch NYSE: BRK) đang phát hành cả hai loại cổ phiếu thường. Sự khác biệt khi giao dịch hai loại cổ phiếu thường này là kí tự sau mã chứng khoán.
Trong trường hợp BRK là BRKa và BRKb hoặc BRK. Sự khác biệt về đặc điểm của hai loại cổ phiếu thường loại A và B sẽ do công ty phát hành quyết định. Có thể là loại A sẽ nhiều quyền biểu quyết hơn loại B, hoặc cũng có thể ngược lại. Ngoài cách phân loại nói trên, cổ phiếu thường còn có những dạng sau: - Cổ phiếu “thượng hạng” – Blue chip stocks: đây là loại cổ phiếu hạng cao của các công ty lớn có lịch sử phát triển lâu đời, vững mạnh về khả năng sinh lời, tài chính.
Thuật ngữ “blue chip” xuất phát từ các sòng bạc, thường thì các sòng bạc dùng các blue chip để đại diện cho các chip đánh bạc có mệnh giá cao. Tại thị trường chứng khoán Mỹ, một cổ phiếu thượng hạng tiêu biểu sẽ có tổng giá trị vốn hóa thị trường vào khoảng vài tỷ USD, thường sẽ là cổ phiếu của những công 6 ty dẫn đầu hoặc trong top ba công ty trong một lĩnh vực kinh doanh. Dù rằng không nên đưa chỉ tiêu thanh toán cổ tức để đánh một cổ phiếu là thượng hạng hay không, tuy vậy, theo thông lệ, hầu hết các cổ phiếu thượng hạng đều được ghi nhận là có dòng cổ tức ổn định và tăng đều qua các năm. - Cổ phiếu có thị giá thấp – Penny stocks: Penny có nghĩa là "đồng cent", đồng tiền có mệnh giá nhỏ nhất tại Mỹ.
Ở thị trường chứng khoán Mỹ, Penny Stocks là những cổ phiếu có giá giao dịch dưới 5USD/cổ phiếu. Ở thị trường chứng khoán Anh, Penny Stocks là cổ phiếu có thị giá thấp hơn 1 bảng/cổ phiếu và do công ty có vốn thị trường nhỏ hơn 100 triệu bảng phát hành. Thị trường chứng khoán Việt Nam không có khái niệm nào chỉ Penny Stocks mà chỉ là cách gọi phổ thông với các cổ phiếu có thị giá thấp. Các nhà đầu tư còn dành riêng tên gọi “cổ phiếu rau muống” hay “cổ phiếu trà đá” khi ám chỉ các Penny stocks của Việt Nam.
- Cổ phiếu tăng trưởng – Growth stocks: cổ phiếu này được phát hành bởi các công ty có lợi nhuận được kỳ vọng cao hơn mức trung bình thị trường. Chính vì vậy, cổ phiếu tăng trưởng còn được gọi bằng cái tên khác “cổ phiếu hấp dẫn” – Glamour stock. Cổ tức của cổ phiếu tăng trưởng thường rất nhỏ hoặc không có, vì các công ty chú trọng quan tâm đến việc tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại. Hầu hết cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực công nghệ được xem là cổ phiếu tăng trưởng.
- Cổ phiếu thu nhập – Income stocks: là cổ phiếu mà cổ tức thường được trả cao hơn mức trung bình trên thị trường. Loại cổ phiếu này được những người hưu trí hoặc lớn tuổi ưu chuộng vì khả năng nhận thu nhập hiện tại cao hơn trung bình thị trường. Cổ phiếu thu nhập chủ yếu do các công ty hoạt động trong lĩnh vực - bất động sản, năng lượng, phục vụ công ích, khai thác tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ tài chính- phát hành. - Cổ phiếu chu kỳ - Cyclical stocks: là cổ phiếu mà giá cả bị ảnh hưởng bởi những biến động của nền kinh tế.
Cổ phiếu chu kỳ thường liên quan đến các công ty bán các mặt hàng theo sở thích mà người tiêu dùng có thể đủ khả năng để mua nhiều 7 hơn trong một nền kinh tế phát triển mạnh và sẽ cắt giảm nhu cầu trong thời kỳ suy thoái. Ví dụ như những doanh nghiệp sản xuất xe hơi, máy bay, nội thất, may mặc, khách sạn, nhà hàng. Các loại giá cổ phiếu 1. Mệnh giá – par value Mệnh giá là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu.
Mệnh giá của cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa, thậm chí ở Mỹ người ta còn phát hành cổ phiếu không có mệnh giá (no par-value stocks). Bởi vì cổ phiếu là chứng khoán không hoàn vốn và giá trị mà các nhà đầu tư quan tâm khi bỏ tiền mua cổ phiếu đó là giá trị thực của cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã đầu tư, nên nó không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi vào sổ sách kế toán của công ty.
Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu thường lần đầu huy động vốn thành lập công ty. Theo lý thuyết, mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra. Mệnh giá được tính bằng công thức sau: Vốn điều lệ của công ty cổ phần Mệnh giá cổ phiếu = Tổng số cổ phiếu đăng ký phát hành Tại Việt Nam, theo Luật Chứng khoán hiện hành, mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng được ấn định là 10. Thư giá – Book value Thư giá là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định Thư giá được xác định bằng công thức sau: 8 Vốn cổ phần thường Thư giá cổ phiếu = Tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành Ở khía cạnh khác, thư giá còn biểu thị cho giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phần (NAV – Net asset value per share).
Thật vậy, trên bảng cân đối kế toán, nếu lấy toàn bộ tài sản trừ (-) nợ phải trả và cổ phần ưu đãi chính là phần giá trị tài sản ròng của công ty và bằng vốn cổ phần. NAV = Tổng tài sản – Nợ phải trả (bao gồm cả cổ phần ưu đãi nếu có) Tổng tài sản - Nợ - Cổ phần ưu đãi NAV/cp = Tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành 1. Giá trị nội tại – Intrinsic value Giá trị nội tại là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại. Được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường… Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu: đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, sau đó so sánh với giá thị trường và lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất.
Thị giá – Market value Thị giá là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Tùy theo quan hệ cung cầu mà thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị nội tại của nó tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu cổ phiếu chịu tác động của nhiền nhân tố kinh tế, chính trị xã hội… trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của nó. Nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu Nếu nhìn vào khía cạnh vật chất của doanh nghiệp chẳng hạn như máy móc thiết bị nhà xưởng, có thể đúng phần nào khi nói giá của cổ phiếu bằng tổng giá trị ròng (NetAsset = Asste –Debt) của tài sản doanh nghiệp chia cho số cổ phiếu.
Nhưng về mặt hoạt đ6ọng kinh doanh của doanh nghiệp, giá trị tài sản ròng (Net asset) chưa đỉ để đo lường giá trị của cổ phiếu. Nói một cách có cơ sở hơn, yếu tố quan trọng nhất 9 là số lợi nhuận kiếm được trên việc đầu tư tiền tệ trong một năm, đây chính là suất chia lời (dividend rate) của cổ phiếu. Đây chính là yếu tố cơ bản của việc hình thành nên giá cổ phiếu. Cơ bản, giá cổ phiếu chính bằng phần chia lời trên cổ phiếu chia cho lãi suất.
Có nhiều cách để phân tích nguyên nhân gây ra sự dao động của giá cổ phiếu. Ở đây chúng tac chia ra làm các nhóm nhân tố: Nhân tố kinh tếm nhân tố phi kinh tế, nhân tố thị trường.