CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG HUYỆN TRI TÔN−TỈNH AN GIANG VÀ TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH LŨ TRÊN SÔNG VÀ XÓI LỞ CÁC CÔNG TRÌNH CẦU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1.1 Giới thiệu chung về huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang 1.1 Điều kiện tự nhiên − xã hội a) Vị trí địa lý Tri Tôn là huyện nằm về hướng Tây Nam tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha (lớn nhất tỉnh An Giang và chiếm gần 17% diện tích toàn tỉnh) gồm 2 thị trấn Tri Tôn, Ba Chúc và 13 xã. Trong đó thị trấn Tri Tôn là trung tâm huyện lỵ, cách không xa các đô thị lớn và cửa khẩu trong khu vực (Tp. Long Xuyên, TX. Châu Đốc, cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Thị xã du lịch − cửa khẩu quốc tế Hà Tiên, Tp.
Rạch Giá),… Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Tri Tôn − tỉnh An Giang So với nhiều huyện, thị xã trong tỉnh An Giang, Tri Tôn có vị trí địa lý khá thuận lợi khi phía Bắc và Đông Bắc Tri Tôn giáp huyện Tịnh Biên (tỉnh An Giang) và nước bạn Campuchia. Phía Đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn (tỉnh An Giang). Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Kiên Lương, Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang). 52 Song song đó, hệ thống đường bộ gồm các tuyến: - QL N1 (nối QL91 tại Tịnh Biên qua Tri Tôn đến QL80 tại Hà Tiên); - Tỉnh lộ 941 (nối Tri Tôn với QL91 tại Châu Thành); - Tỉnh lộ 943 (nối Tri Tôn qua Thoại Sơn đến QL91 tại TP.Long Xuyên); - Tỉnh lộ 948 (nối Tri Tôn qua Tịnh Biên đến QL91); - Tỉnh lộ 955B (nối Tri Tôn − Ba Chúc − đến QL N1).
Mạng lưới đường thủy chính bao gồm: - Kênh Tri Tôn (nối Sông Hậu tại Châu Phú qua Tri Tôn đến Kênh Rạch Giá − Hà Tiên tại Hòn Đất); - Kênh Vĩnh Tế (nối Sông Hậu tại TX. Châu Đốc qua Tri Tôn, Kiên Lương đến Kênh Rạch Giá − Hà Tiên tại TX. Hà Tiên); - Kênh Mạc Cần Dưng (nối Sông Hậu tại Châu Thành đến Tri Tôn), nối tiếp Kênh Tri Tôn − Vàm Rầy đến Kênh Rạch Giá − Hà Tiên tại Hòn Đất); - Kênh 10 − Châu Phú (nối Sông Hậu tại Châu Phú qua Tri Tôn đến Kênh Rạch Giá − Hà Tiên tại Hòn Đất cùng tuyến biên giới quốc gia Việt Nam − Campuchia dài khoảng 15 km (gần cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên) không chỉ giúp việc đi lại được thuận tiện, đảm bảo giao lưu giữa huyện và các nơi khác trong khu vực mà rất thuận tiện để trao đổi hàng hóa với nước bạn Cămpuchia và khu vực, phát triển thương mại vùng biên, đặc biệt là các mặt hàng nông − lâm sản, thực phẩm. Đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế cả nước.
b) Điều kiện tự nhiên – xã hội Tri Tôn là huyện miền núi, có 17,2 km đường biên giới với Campuchia. Diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,48%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 8,89%, còn lại là đất ở và đất chuyên dùng. Địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với nhiều kênh mương lớn nhỏ ngang dọc. Trên địa bàn huyện có các ngọn núi sau: - Núi Nam Quy cao 213 m, chu vi 8.875 m, thuộc cụm núi Cấm, ở xã Châu Lăng.
- Núi Tà Lọt cao 69 m, chu vi 870 m, thuộc cụm núi Cấm, ở xã Châu Lăng. - Núi Dài còn gọi là Ngọa Long Sơn, cao 554 m, chu vi 21.625 m, thuộc cụm núi Dài, ở xã Lê Trì. - Núi Tượng còn gọi là Liên Hoa Sơn, cao 145 m, chu vi 3.825 m, thuộc cụm núi Dài, ở thị trấn Ba Chúc - Núi Sà Lon, cao 102 m, chu vi 2.325 m, thuộc cụm núi Dài, ở xã Lương Phi. - Núi Nước còn gọi là Thủy Đài Sơn, cao 54 m, thuộc cụm núi Dài, ở thị trấn Ba Chúc - Núi Cô Tô, còn gọi là Phụng Hoàng Sơn, cao 614 m, chu vi 14.375 m, thuộc cụm núi Cô Tô, xã Cô Tô.
52 - Núi Tà Pạ, cao 102 m, chu vi 10.225 m, thuộc cụm núi Cô Tô, xã An Tức, thường gọi là đồi. Nguồn nước ở Tri Tôn chủ yếu là nước giếng và nước máy. Hiện trên địa bàn huyện Tri Tôn có trên 400 giếng khoan và hơn 3.000 giếng đào phục vụ nước sinh hoạt hằng ngày của người dân. Năm 2006, Xí nghiệp Điện – Nước huyện Tri Tôn đã đầu tư hơn 1 tỷ đồng xây dựng trạm tăng áp cùng với 6 km đường ống dẫn nước, nối liền từ trung tâm thị trấn Tri Tôn đến 2 xã Núi Tô và An Tức.
Hệ thống này đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 500 hộ đồng bào dân tộc Khmer đang sinh sống tại các phum, sóc ở ven chân đồi Tà Pạ. c) Địa hình Địa hình huyện Tri Tôn mang đậm nét của vùng đồng bằng kênh rạch nhưng có xen lẫn nhiều đồi núi với điểm cao nhất là đỉnh núi Cô Tô 614 m (so với mặt nước biển), khu vực đồng bằng có độ cao dao động từ 0. Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên. Đây là một dạng địa hình đặc thù ít có ở vùng ĐBSCL, do địa hình có nhiều đồi núi hiểm trở, trước đây Tri Tôn đã từng là căn cứ cách mạng với nhiều di tích lịch sử, kết hợp với cảnh quan thiên nhiên có nhiều lợi thế phát triển.
Đồng thời Tri Tôn là địa bàn tiếp giáp với Hà Tiên (khu du lịch biển nổi tiếng của vùng ĐBSCL), nên các tuyến du lịch chất lượng cao được hình thành, góp phần cho du lịch Tri Tôn phát triển. Song song đó, địa hình Tri Tôn có nhiều đồi núi cao, đây cũng là lợi thế để tránh lũ lớn bất thường, đảm bảo an toàn cho người, tài sản và vật nuôi.2: Địa hình huyện Tri Tôn có sự xen kẻ giữa đồng bằng và đồi núi Tri Tôn được biết đến là địa phương có hệ thống kênh rạch tương đối dày đặc với những kênh chính như: kênh Tám Ngàn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thành, Mặc Cần Dưng, Tri Tôn, kênh 10, 11, 12, 13, Tân Vọng, Châu Phú, T4, T5, T6, kênh 15 mới, kênh Phú 52 Tuyến, kênh Huệ Đức, kênh Cà Na, kênh Ninh Phước, Năm Xã, H7, Tân Tuyến, Ranh Tây…, hệ thống kênh mương này vừa có thể phục vụ tưới tiêu, sinh hoạt và giao thông đường thủy vừa đóng vai trò quan trọng trong việc rửa phèn và cải tạo đất và là hệ thống thoát lũ ra biển Tây. Cùng với huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn là địa phương có diện tích rừng lớn nhất tỉnh An Giang. Với hai loại rừng là rừng tự nhiên và rừng trồng, những năm gần đây, huyện đã tập trung phát triển rừng trồng, phủ xanh đồi trọc.
Tính riêng năm 2008, tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện là 8. Trong đó, rừng sản xuất là 3139,17 ha (chiếm 38,61%); rừng phòng hộ 4666,83 ha (chiếm 57,40%) và rừng đặc dụng là 324,23 ha (chiếm 14,01%). Hầu hết diện tích là rừng trồng với các loại cây phát triển nhanh như cây bạch đàn, keo lá tràm, tai tượng và một số cây gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, dó bầu và nhiều loại cây ăn quả lâu năm. Hiện độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Tri Tôn đạt 14,25% cao hơn mức độ che phủ chung của tỉnh (4%).
Tỷ lệ che phủ cao là điều kiện phục hồi nhanh các hệ sinh thái rừng và duy trì hệ động vật rừng gồm các loài thú, loài bò sát, các loài chim và các loài thủy sản rừng ngập nước. Động vật trong rừng khá phong phú với nhiều chủng loại như khỉ, heo rừng, trăn, rắn. và các loài chim. Có thể nói, rừng là lợi thế của huyện Tri Tôn trong việc bảo tồn nguồn GEN quý kết hợp với việc phát triển ngành du lịch sinh thái.3: Tràm – Loại cây có nhiều điều kiện phát triển tại Tri Tôn d) Tài nguyên khoáng sản Tri Tôn là địa bàn có nhiều chủng loại khoáng sản tương đối phong phú, bao gồm đá xây dựng các loại có trữ lượng khoảng 144 triệu m3, cao lanh và sét nguyên liệu sản xuất gạch ngói có trữ lượng khoảng 9,4 triệu m3, than bùn có trữ lượng khoảng 14 triệu tấn và diatomit khoảng 177 ngàn tấn.4: Nguồn nguyên liệu đá ở Tri Tôn rất phong phú Ngoài ra, trên địa bàn thị trấn Tri Tôn còn có nước khoáng có thể khai thác sản lượng 790 m3/ngày, là nước khoáng thiên nhiên đóng chai có thể khai thác công nghiệp phục vụ tiêu dùng.
Hiện có khoảng 7 khu vực mỏ khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường và sét làm gạch ngói với tổng diện tích theo giấy phép 193 ha (trong đó khai thác sét gần 7 ha và có 01 mỏ đá gần 10 ha ngưng khai thác) và 10 khu vực khoáng sản được UBND tỉnh cho phép khai thác tận thu tại huyện Tri Tôn, bao gồm 1 khu cao lanh, 1 khu sét nguyên liệu sản xuất gạch ngói và 8 khu khai thác than bùn với 78,47 ha (trong đó than bùn chiếm diện tích nhiều nhất 10,59 ha). Hoạt động khai thác khoáng sản thời gian qua đã góp phần tích cực cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng như tạo việc làm cho người dân địa phương, cung cấp nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng trong tỉnh và cho vùng ĐBSCL. e) Tiềm năng du lịch và văn hóa Tri Tôn vừa có địa hình kênh rạch xen lẫn đồi núi − rừng tạo lên nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú kết hợp nhiều di tích lịch sử bởi nơi đây từng là vùng kháng chiến trong thời kỳ chống Mỹ và cũng là nơi diễn ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Hiện, Tri Tôn có 02 di tích được xếp hạng cấp tỉnh là Tháp An Lợi, Hố Thờ và 04 khu di tích được công nhận là khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia: Khu di tích Đồi Tức Dụp; Khu di tích nhà mồ Ba Chúc (gồm nhà mồ Ba Chúc, chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai); Chùa Xvayton và Khu di tích Ô Tà Sóc.
Nhân dân huyện Tri Tôn đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bên cạnh đó, do trên địa bàn Tri Tôn ngoài người Kinh chiếm đa số thì người Khmer chiếm tỷ lệ cao (gần 40%), còn lại là người Hoa và một ít dân tộc khác. Các dân tộc nói chung đã hòa nhập thành cộng đồng dân cư và sinh sống đoàn kết, gắn bó .