Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU – LƯỢNG HÓA RỦI RO CỔ PHIẾU VÀ HỆ SỐ BETA 1.1 – Giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu 1.1 – Giá cổ phiếu • Giá trị nội tại (Intrinsic value) : Là giá trị thực của CP ở thời điểm hiện tại. Giá trị này được tính tóan căn cứ vào cổ tức của công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường. Đây là cơ sở quan trọng cho NĐT khi quyết định đầu tư vào CP, đánh giá được giá trị thực của CP, so sánh với giá của thị trường và lựa chọn phương án đầu tư có hiêu quả nhất. Có nhiều cách để xác định giá trị thực của CP, nhưng phổ biến nhất là mô hình chiết khấu dòng cổ tức.
Nguyên lý cơ bản của phương pháp triết khấu dòng cổ tức chính là giả định rằng giá trị của một cổ phiếu là những khoản tiền mà NĐT nhận được trong tương lai khi đầu tư vào cổ phiếu này. Cổ tức sẽ đem lại cho cổ đông khoản tiền trong hiện tại trong khi phần lợi nhuận giữ lại được sử dụng vào việc tái đầu tư để phát triển trong tương lai. Theo những giả định này giá trị của cổ phiếu sẽ được tính theo công D1 thức : P = ; Trong đó: re − g P - là giá trị thật của cổ phiếu D1 - là cổ tức mà công ty sẽ trả trong năm tới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ⎯2⎯ re - là tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của cổ phiếu được xác định theo mô hình định giá tài sản vốn g - là tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức trong tương lai. (tăng trưởng đều) Ở đây, re được xác định từ công thức: re = rf + β×(rm – rf); trong đó : rf - là lãi suất khi đầu tư vào các loại tài sản không có rủi ro ( lãi suất của tín phiếu kho bạc thường được sử dụng) β - hệ số beta của CP đo lường mức độ biến động của cổ phiếu so với mức biến động của thị trường.
rm - tỷ suất sinh lời của toàn thị trường. Tỷ lệ tăng trưởng g được tính theo công thức: g = ROE x tỷ lệ lợi nhuận giữ lại so với tổng lợi nhuận. • Thị giá (Market value) : Là giá cả của CP khi giao dịch trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Tùy theo quan hệ cung cầu trên thị trường mà thị giá cả của CP có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị thực của nó tại thời điểm diễn ra giao dịch mua bán.
Quan hệ cung cầu cố phiếu, đến lượt nó lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội…trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó.2 – Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến giá CP trong đó có các nhân tố như lạm phát, thu nhập của công ty… Nhưng chúng ta có thể kể ra một số nhân tố được xem là có nhiều ảnh hưởng đến biến động giá CP như sau : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ⎯3⎯ • Nhân tố lãi suất : Khi lãi suất tiền gửi hay lãi suất tiền vay ngân hàng tăng, các công ty sẽ phải trả nhiều hơn cho chi phí lãi vay và như thế sẽ ảnh hưởng đến thu nhập tương lai của công ty. Cho nên, nếu như lãi suất tăng giá cả của chứng khoán có thể giảm. Lãi suất cũng là một yếu tố quan trọng, trong điều kiện lãi suất tăng, các NĐT có thể có những lựa chọn nên giữ tài sản của mình bằng cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt hay tài sản khác. • Nhân tố lạm phát : Lạm phát tăng luôn là dấu hiệu cho thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bị hạ thấp làm cho giá cổ phiếu giảm.
Bất cứ khi nào lạm phát bùng lên, đồng tiền khôn ngoan sẽ rời khỏi các cổ phiếu mà nó đã được đầu tư trước đó. Trong hầu hết các trường hợp, lịch sử của thị trường chứng khoán cũng chính là lịch sử của lạm phát. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá trị. • Nhân tố phát triển kinh tế : Về tăng trưởng kinh tế, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển và giảm khi nền kinh tế kém phát triển; tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm cổ phiếu và tình hình biến động của từng cổ phiếu phụ thuộc vào tình hình hoạt động cụ thể của từng công ty.
Về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động hoạt động kinh doanh, đôi khi xảy ra sau. • Các nhân tố về môi trường chính trị : Nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tiếp theo là những yếu tố phi kinh tế, bao gồm sự thay đổi về các điều kiện chính trị, ví dụ chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu Chính phủ, thay đổi về thời tiết và những nhân tố tự nhiên khác, và thay đổi về điều kiện văn hoá, như tiến bộ về công nghệ v.v… Tuy nhiên, những yếu tố này chỉ có ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ⎯4⎯ hưởng lớn đối với giá chứng khoán ở những nước có nền kinh thế thị trường phát triển, thị trường sẽ đánh giá những chính sách này. Trong điều kiện Việt Nam, nền chính trị ổn định, mặt khác thị trường chứng khoán còn chưa phát triển, thì yếu tố này ít có tác động. • Nhân tố về báo cáo tài chính : Chúng ta biết, thị trường thì luôn biến động, các báo cáo phân tích thì đưa các nhận định, khuyến cáo về mua bán.
Tuy nhiên, các thông tin có thể lạc hậu hoặc không theo kịp sự biến động của thị trường, thậm trí dữ liệu có khi chưa được sự thẩm định của các cơ quan chức năng. Giá cổ phiếu phản ánh sự mong đợi của các NĐT về lợi nhuận trong tương lai của công ty. Nếu như công ty báo cáo có kết quả cao hơn hoặc thấp hơn mức mong đợi đó thì giá cổ phiếu có xu hướng biến động tăng hoặc giảm tương ứng. • Nhân tố thị trường : Các yếu tố thị trường, là những nhân tố bên trong của thị trường, bao gồm sự biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm yếu tố thứ ba tác động tới giá cổ phiếu.
Mối quan hệ giữa cung và cầu được trực tiếp phản ánh thông qua khối lượng giao dịch trên thị trường, hoạt động của những nhà đầu tư có tổ chức, giao dịch ký quỹ v.v cũng có ảnh hưởng đáng kể. Ngoài những yếu tố nói trên, có thể tính đến các yếu tố khác như mức trả cổ tức, thông tin mua bán cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty, thông tin tách gộp CP, thông tin về việc phát hành thêm CP, tin đồn…Những NĐT chuyên nghiệp hơn có thể còn tìm hiểu các thông tin liên quan đến chính sách của Chính phủ đối với thị trường chứng khoán, chính sách cổ phần hoá DNNN, tình hình quản trị của công ty niêm yết, tên tuổi của CTCK bảo lãnh phát hành hay tư vấn niêm yết cho công ty niêm yết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 – Rủi ro và các lý thuyết về rủi ro biến động giá CP 1.1 – Khái niệm về rủi ro Trong thế giới đầu tư, người ta định nghĩa rủi ro như là các khả năng mà tại đó tỷ suất sinh lợi nhận được từ đầu tư có thể khác với tỷ suất sinh lợi mong đợi. Một cách định lượng thì rủi ro thường được đo lường bằng độ lệch chuẩn theo phương pháp thống kê.
Đối với các NĐT, họ luôn luôn mong muốn một tỷ suất sinh lợi cao nhất với một mức rủi ro thấp nhất. Nguyên tắc cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi nói cho chúng ta biết rằng : Một mức rủi ro thấp sẽ đi kèm với một tỷ suất sinh lợi thấp và ngược lại, mức rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lợi cao hơn. Nói cách khác, nguyên tắc này cho thấy một khoản tiền đầu tư chỉ có thể đạt được mức sinh lợi cao khi bạn cũng có đủ khả năng chấp nhận một khả năng thua lỗ tương ứng.2 – Phân loại rủi ro Trong đầu tư CP, các NĐT đối mặt với rất nhiều rủi ro, chúng ta có chỉ ra một số rủi ro chính sau đây : • Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các NĐT đối với các hiện tượng trên thị trường. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các NĐT và họ sẽ cố gắng rút vốn.
Phản ứng dây truyền này làm tăng số lượng bán, giá cả CK sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ⎯6⎯ rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các NĐT về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự hy vọng của các NĐT vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường. • Rủi ro lãi suất : Cũng có thể hiểu Giá cả chứng khóan thay đổi do lãi suất thị trường dao động thất thường gọi là rủi ro lãi suất.
Giữa lãi suất thị trường và giá cả chứng khóan có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi lãi suất thị trường tăng, người đầu tư có xu hướng bán chứng khóan để lấy tiền gửi vào ngân hàng dẫn đến giá chứng khóan giảm và ngược lại. Các NĐT thường coi trái phiếu Chính phủ là không rủi ro. Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn không rủi ro.
Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất. Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường.