Chương 1 TỔNG QUAN -3- 1. KHÁI QUÁT VỀ VI KHUẨN LAO 1. Đặc điểm chung về vi khuẩn lao Vi khuẩn lao đƣợc biết từ lâu tồn tại khoảng 15.400 năm, căn cứ vào tính đa dạng của chủng vi khuẩn và khả năng đột biến, cho thấy chúng là loài vi khuẩn tiến triển rất nhiều so với dạng nguyên thuỷ nhƣng vẫn thuộc giống Mycobacterium. Nhóm gây bệnh quan trọng nhất trong giống Mycobacterium là nhóm Mycobacterium tuberculosis complex bao gồm 5 loài: (1) Mycobacterium tuberculosis là nguyên nhân chính gây bệnh lao ở ngƣời, đƣợc Rober Koch phân lập năm 1882, (2) Mycobacterium bovis có thể lây truyền bệnh từ bò sang ngƣời do sử dụng sữa bò mắc lao chƣa tiệt khuẩn.
Vi khuẩn cũng có thể lây truyền từ ngƣời bệnh sang ngƣời lành, (3) Mycobacterium microti phân lập từ chuột đồng (Microtus agrestis) do Wells 1937 và đƣợc Reed đặt tên năm 1959, có độc lực rất thấp đối với chuột lang và ngƣời, (4) Mycobacterium africanum là một loài đƣợc cho là trung gian giữa M. bovis, thỉnh thoảng xuất hiện ở Châu Phi và thƣờng đề kháng tự nhiên với thioacetazone, (5) Mycobacterium canettii là một loài mới đƣợc bổ sung vào từ năm 1997, gây bệnh ở chuột đồng, chuột trù và chuột rừng. Các loài vi khuẩn lao trên đƣợc gọi là Mycobacterium tuberculosis complex, bởi vì trong bộ gen của chúng cùng có chung một hay nhiều đoạn gen IS 6110 đặc thù mà các loài vi khuẩn lao khác không có [1,5,6,32]. Khả năng gây bệnh của vi khuẩn lao Vi khuẩn gây bệnh lao tại nhiều cơ quan trong cơ thể, nhƣng nhiều nhất là lao phổi.
Vi khuẩn xâm nhập qua đƣờng hô hấp. Ở lần xâm nhập đầu tiên vi khuẩn gây nên những tổn thƣơng tiết dịch tại phổi và nhanh chóng xâm nhập vào mạch bạch huyết và hạch bạch huyết. Những tổn thƣơng này thƣờng lành nhanh chóng và những hạch bạch huyết trở thành bả đậu và sau đó hóa canxi. Ở lần tái nhiễm sau, những tổn thƣơng trở nên mạn tính có ba vùng: ở trung tâm là lớp tế bào khổng lồ chứa vi khuẩn, ở giữa là tế bào giống biểu mô thƣờng xếp thành tia, ở ngoài là tế bào sợi, lympho bào, đơn bào.
Sau cùng, ở ngoài thành lập mô sợi và ở trung tâm bị -4- hoại tử bả đậu, đó hạt lao. Tổn thƣơng này có thể vỡ tạo thành một hang, hang này có thể lành bằng cách hóa sợi hay hóa vôi. Từ đây vi khuẩn có thể theo đƣờng bạch huyết, đƣờng máu đi khắp các cơ quan trong cơ thể, và gây nên lao xƣơng, lao khớp, lao màng não, lao ruột, lao thận, lao hạch. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao 1.
Đặc điểm cấu tạo vi khuẩn lao Vi khuẩn hình que cong, nhỏ, chiều dài từ 3 - 5 µm, rộng 0,3 - 0,5 µm, có nhiều hạt trên thân, không vỏ, không di động, không bào tử. Cấu tạo từ ngoài vào trong gồm: (1) Lớp lipid bên ngoài (2) Lớp acide mycolic (3) Lớp polysacharid (4) Lớp peptidoglycan (5) Lớp màng plasma (6) Lớp lipoarabinomannan (7) Lớp phosphatidylinositol mannoside (8) Lớp khung vách tế bào Hình 1.1: Cấu tạo vách tế bào vi khuẩn lao [6] -5- Cấu trúc vách tế bào và acide mycolic giúp vi khuẩn có sức chịu đựng cao, làm tăng tính kháng thuốc do làm phân hủy các hoá chất và ngăn chặn hiệu quả hoạt động của kháng sinh, giúp cho vi khuẩn phát triển đƣợc bên trong đại thực bào và lẩn tránh hệ thống miễn dịch của chủ thể. Cấu trúc vách tế bào vi khuẩn lao có lớp sáp không thấm nƣớc, chống lại sự xâm nhập của thuốc nhuộm nên rất khó phát hiện bằng các thuốc nhuộm thông thƣờng.