Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong khu bảo tồn 1. Tổng quan về vùng đệm Khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Chính phủ. Một lần nữa vùng đệm được xác định nằm ngoài VQG, quyết định này đề cập một cách tương đối toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các bên liên quan trong việc phát triển kinh tế, xã hội vùng đệm.
Theo quyết định này thì “vùng đệm được hiểu là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên.VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng. Cơ quan chính quyền Nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư với từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng.
Diện tích vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng”. Như vậy tất cả các VQG, khu BTTN đều phải có vùng đệm, đây là chiếc nôi, là vành đai bao quanh có tác dụng bảo vệ vùng lõi VQG, khu BTTN. Vì vậy, đầu tư xây dựng và quản lý vùng đệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đầu tư phát triển vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những khó khăn trong việc bảo vệ ĐDSH.
Mọi cố gắng đầu tư xây dựng và quản lý vùng 4 đệm là để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển nông thôn. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng hợp: Kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, thông tin truyền thông và phải huy động nội lực của nhiều ngành khác nhau. Yêu cầu quan trọng của việc quản lý vùng đệm là phải thu hút được sự tham gia của các bên liên quan. Trong đó, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của người dân trong cộng đồng địa phương.
Quản lý vùng đệm được nhìn nhận như một hành động can thiệp dài hạn nhằm đạt được tính bền vững về sinh thái, xã hội, tổ chức kinh tế. Vai trò của vùng đệm trong khu bảo tồn Vùng đệm có vai trò hết sức quan trọng đối với bảo tồn và phát triển, song việc quản lý vùng đệm gặp nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi phải có nhiều biện pháp tổng hợp về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tuyên truyền và phải huy động nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau lâu dài, liên tục. Các bên liên quan trong quản lý vùng đệm và Vườn quốc gia cần phát huy vai trò, trách nhiệm của mình đối với bảo tồn và phát triển. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên.
Đầu tư phát triển vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những khó khăn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học.Mọi cố gắng đầu tư xây dựng và quản lý vùng đệm là để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển nông thôn. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng hợp về mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, thông tin truyền thông và phải huy động nội lực của nhiều ngành khác nhau. Để phát huy vai trò của vùng đệm với bảo tồn và phát triển, trước hết cần phải giải quyết những vấn đề sau: - Phải có quy hoạch vùng lõi và vùng đệm rõ ràng, có mốc giới kiên cố. - Xác định cơ chế chia sẻ lợi ích có hiệu quả.
Người dân được hưởng lợi gì từ khu BTTN hoặc VQG - Xác định rõ mục tiêu phát triển vùng đệm và có dự án để thực hiện mục tiêu đó. 5 - Phối hợp tốt các chương trình, dự án của các cấp, các ngành khác nhau trên cùng một địa bàn. - Xây dựng cơ chế phối hợp cùng tham gia giữa các bên liên quan. Trong các vấn đề trên thì sự tham gia và hỗ trợ của người dân địa phương Trong các vaand đề trên thì sự tham gia và hỗ trợ của người dân địa phương là hết sức quan trọng.
Các mục tiêu của dự án phải phù hợp với nguyện vọng của người dân. Người dân phải thực sự làm chủ trong vùng đệm về tài nguyên, công việc và quyền lợi. Chỉ khi họ trở thành người chủ thực sự thì họ sẽ có trách nhiệm với chính nơi mà họ đang sinh sống. Chính sách và quy chế quản lý vùng đệm 1.
Đất lâm nghiệp và cơ chế quản lý khu bảo tồn Vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG chính thức được đề cập khi có Quyết định số 194-CT ngày 9/8/1986 quy định danh mục 73 khu rừng cấm và quyết định số 1171-CT ngày 30/11/1986 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quy định về vùng đệm các VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên song cho đến nay việc thực hiện quản lý vùng đệm còn rất hạn chế. Quản lý rừng cộng đồng được xây dựng dựa trên phong tục tập quán của người dân địa phương.Có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng.Nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng.Vì vậy, quản lý rừng cộng đồng phải hướng người dân vào phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở hoạt động quản lý bền vững tài nguyên rừng.Tuy nhiên, phong tục tập quán, nhận thức, kiến thức của người dân không phải là bất biến.Chúng thay đổi không ngừng cùng sự tiến bộ của xã hội. Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng cộng đồng không chỉ phù hợp với đặc điểm nhận thức và kiến thức của người dân mà còn phải hướng đến làm thay đổi chúng theo chiều hướng có lợi cho hoạt động quản lý bền vững tài nguyên rừng. 6 Ngày nay ở nước ta, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao.
Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng. Trần Ngọc Lân và các đồng sự (1995-1998) đã tiến hành nghiên cứu tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát và dựa trên nghiên cứu này, cuốn sách “Phát triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và VQG” được ra đời năm 1999 [21]. Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống nông hộ tại vùng đệm Pù Mát. Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ.
Hiện tại, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các nông hộ có sự hiểu biết và có vốn đầu tư. Gilmour và Nguyễn Văn Sản đã xuất bản cuốn sách “Quản lý vùng đệm ở Việt Nam”.Đây là báo cáo về một nghiên cứu quản lý vùng đệm, với ba nghiên cứu điểm tại VQG Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên [5]. Nghiên cứu đã miêu tả thực trạng vùng đệm, đặc biệt là mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư của vùng đệm và tài nguyên rừng ở trong vùng đệm, ở các VQG, các kết luận và đề xuất mới chỉ ở mức vạch ra phương hướng ở tầm vĩ mô. Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999), đã nghiên cứu các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng [9].Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản.
Nghiên cứu này đã chỉ ra: quản lý rừng cộng đồng ở đây được hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản. Đây là một mô hình, một hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng đã cho hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng. 7 Hiện nay ở một số địa phương ở Sơn La và Lai Châu, thuộc vùng hoạt động của dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức) [7] đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng. Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản.
Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án. Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng.