MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là sản phẩm tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời. Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt có tầm quan trọng rất lớn đối với môi trƣờng sống của con ngƣời, là địa bàn phân bố dân cƣ xây dựng các công trình kinh tế văn hóa, an ninh, quốc phòng… Từ xa xƣa con ngƣời đã biết khai thác và sử dụng tài nguyên đất. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, việc sử dụng đất lâu dài, đã làm nảy sinh những vấn đề phức tạp về quan hệ giữa ngƣời với ngƣời liên quan đến đất đai, đặc biệt là vấn đề chiếm hữu và sử dụng đất, vấn đề phân phối và quản lý đất đai.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng về dân số vì vậy việc thành lập bản đồ địa chính là hết sức cần thiết, giúp việc quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả hơn, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời và các ngành khoa học nói chung và ngành trắc địa nói riêng cũng có những phát triển rõ rệt. Công nghệ đo vẽ bằng máy toàn đạc điện tử đã ra đời tạo một bƣớc đột phá mới giúp cho việc thành lập bản đồ đƣợc thực hiện một cách nhanh chóng và đạt độ chính xác cao. Chính vì vậy mà công nghệ đo đạc bằng máy toàn đạc điện tử đang trở thành công nghệ chính trong công tác thành lập bản đồ.
Hiện nay, tại huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn khá nhiều địa phƣơng chƣa đƣợc đo vẽ bản đồ địa chính hoặc đã cũ không còn phù hợp với thực tế gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý về đất đai. Xuất phát từ những thực tế trên, đƣợc sự giới thiệu Ban Giám hiệu trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo ThS. Vƣơng Vân Huyền ,em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính tờ số 35 tỷ lệ 1:1000 xã Tử Du, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục đích nghiên cứu Từ số liệu đo đạc bằng máy toàn đạc điện tử và sử dụng công nghệ tin học phần mềm Microstation và Famis vào thành lập bản đồ địa chính dạng số.
- Tạo ra các sản phẩm bản đồ địa chính với việc biên tập chỉnh sửa hoàn thiện bản đồ. Yêu cầu - Bản đồ địa chính thành lập phải tuân thủ quy trình, quy phạm hiện hành. - Đảm bảo độ chính xác, tỷ lệ bản đồ thích hợp, thể hiện đầy đủ nội dung theo yêu cầu của công tác quản lý đất đai. Bản đồ địa chính thành lập phải đảm bảo tính thống nhất, đạt yêu cầu chất lƣợng và sử dụng trong thực tế.
Ý nghĩa của đề tài - Thực tập tốt nghiệp là cơ hội để hệ thống và cùng cố lại kiến thức đã học trong nhà trƣờng. - Giúp sinh viên thành thạo các phƣơng pháp nhập số liệu và xử lý các số liệu đo đạc, quy trình thành lập bản đồ từ các số liệu đo. - Qua nghiên cứu và tìm hiểu đƣợc ứng dụng của máy toàn đạc điện tử trong công tác đo vẽ và thành lập bản đồ. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Bản đồ địa chính 2. Khái niệm về bản đồ địa chính “ Bản đồ địa chính là tên gọi cho bản đồ đƣợc biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa chính cơ sở theo từng đơn vị hành chính xã, phƣờng, thị trấn trong đó yêu tố phản ánh chính là thửa đất, đƣợc thể hiện đầy đủ chính xác về hình thể, vị trí, kích thƣớc, loại đất. Bản đồ địa chính đƣợc lập theo đơn vị hành chính xã và cấp tƣơng đƣơng. Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất.
Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên ngành thông thƣờng ở chỗ bản đồ địa chính có tỷ lệ lớn và phạm vi đo vẽ là rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc. Bản đồ địa chính thƣờng xuyên đƣợc cập nhật các thay đổi hợp pháp của đất đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc cập nhật theo định kỳ. Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngƣời ta hƣớng xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng vì vậy bản đồ địa chính còn có tính chất của bản đồ cơ bản quốc gia. Khi nghiên cứu đặc điểm quy trình thành lập bản đồ địa chính và phạm vi ứng dụng của từng loại bản đồ địa chính ta cần phải làm quen với một số khái niệm về các loại bản đồ sau: Bản đồ địa chính gốc: Là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện trọn và không trọn thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã đƣợc duyệt, các yếu tố địa lí liên quan lập theo khu vực trong phạm vi hoặc một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc trung ƣơng, đƣợc cơ quan thực hiện và cơ quan quản lí đất đai cấp tỉnh xác nhận.
Bản đồ địa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cấp xã, phƣờng thị trấn. Các nội dung đã đƣợc cập nhật trên bản đồ địa chính cấp xã phải đƣợc chuyển lên bản đồ địa chính gốc. 4 Bản đồ địa chính: Là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối tƣợng chiếm đất nhƣng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã đƣợc duyệt, các yếu tố địa lí có liên quan, lập theo đơn vị hành chính cấp xã, phƣờng, thị trấn, đƣợc cơ quan thực hiện, ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lí đất đai tỉnh xác nhận. Nội dung của bản đồ địa chính và các yếu tố cơ bản 2.
Các yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính Bản đồ địa chính đƣợc sử dụng trong quản lý đất đai là bộ bản đồ biên tập riêng cho từng đơn vị hành chính cơ sở xã, phƣờng, mỗi tờ bản đồ có thể gồm nhiều tờ bản đồ ghép lại. Để đảm bảo thống nhất tránh nhầm lẫn và dễ dàng vận dụng trong quá trình thành lập, sử dụng bản đồ và quản lí đất đai, ta cần hiểu rõ bản chất một số yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính và các yếu tố tham chiếu phụ trợ của chúng. - Yếu tố điểm: Điểm là một điểm trên thực địa bằng dấu mốc đặc biệt. Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các đƣờng đặc trƣng trên đƣờng biên thửa đất, các điểm đặc trƣng của địa vật.
Trong địa chính cần quản lý dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và tọa độ của chúng. - Yếu tố đƣờng: Đó là các đoạn thẳng, đƣờng thẳng, đƣờng cong nối qua các điểm thực địa. Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai điểm đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phƣơng vị của đoạn thẳng. Đối với đƣờng gấp khúc cần quản lý toạ độ các điểm đặc trƣng của nó.
Các đƣờng cong có dạng hình học cơ bản có thể quản lý các yếu tố đặc trƣng. Tuy nhiên trên thực tế đo đạc nói chung và đo đạc địa chính nói riêng thƣờng xác định đƣờng cong bằng cách chia nhỏ đƣờng cong tới mức các đoạn nhỏ của nó có thể coi là đoạn thẳng và nó đƣợc quản lý nhƣ một đƣờng khấp khúc. - Thửa đất: Là phần diện tích đƣợc giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc đƣợc mô tả trên hồ sơ. Ranh giới sử dụng đất trên thực địa đƣợc xác định bằng các cạnh thửa là tâm của đƣờng ranh giới tự nhiên hoặc đƣờng nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố định (là dấu mốc hoặc cột mốc) tại các đỉnh liền kề của thửa đất; ranh giới thửa đất mô tả trên hồ sơ địa chính đƣợc xác định bằng các cạnh thửa là đƣờng ranh giới tự nhiên hoặc đƣờng nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố 5 định.
Trên bản đồ địa chính tất cả các thửa đất đều đƣợc xác định vị trí ranh giới, diện tích, loại đất và đƣợc đánh số thứ tự.Trên bản đồ địa chính ranh giới thửa đất phải thể hiện là đƣờng bao khép kín của phần diện tích đất thuộc thửa đất đó. Trƣờng hợp ranh giới thửa đất là cả đƣờng ranh tự nhiên (nhƣ bờ thửa tƣờng ngăn….) không thuộc thửa đất mà là tƣờng ranh tự nhiên đó thể hiện đƣợc bề rộng trên bản đồ địa chính thì ranh giới thửa đất đƣợc thể hiện trên bản đồ địa chính là mép của đƣờng ranh tự nhiên giáp với thửa đất. - Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có đƣờng ranh giới phân chia không ổn định, có các phần đƣợc sử dụng vào các mục đích khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thƣờng xuyên thay đổi chủ sử dụng đất. Loại thửa này gọi là thửa đất phụ hay đơn vị tính thuế.
- Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều loại đất. Thông thƣờng lô đất đƣợc giới hạn bởi các con đƣờng kênh mƣơng, sông ngòi. Đất đai đƣợc chia lô theo điều kiện địa lý khác nhau nhƣ có cùng độ cao, độ dốc,theo điều kiện giao thông, thuỷ lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng. - Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất.
Khu đất và xứ đồng thƣờng có tên gọi riêng đƣợc đặt từ lâu đời. - Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cƣ tạo thành một cộng đồng ngƣời cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất. Các cụm dân cƣ thƣờng có sự cố kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo nghề nghiệp. - Xã, phƣờng: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc đƣờng phố.
Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc một cách toàn diện đối với các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình. Nội dung của bản đồ địa chính a.