CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC 1. Lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc Công nghệ thông tin, tiếng Anh là Information Technology hay là IT, là một loại hình ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để thu thập, tiếp thu, xử lý, lưu trữ và truyền tải dữ liệu gồm văn bản, âm thanh, phim ảnh và thông tin số dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác.
Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)”. [34] Công nghệ thông tin đem lại những kiến thức về Kỹ thuật lập trình, Thiết kế web, công nghệ phần mềm, Phân tích thiết kế hệ thống, Cơ sở dữ liệu và hệ quản trị cơ sở dữ liệu, Công nghệ JAVA, Lập trình hướng đối tượng, Đồ họa ứng dụng, Thiết kế hoạt ảnh, Xây dựng các phần mềm quản lý… và các kiến thức về Kiến trúc máy tính, Mạng máy tính, Quản trị mạng, Quản trị WEB server.
Công nghệ thông tin giúp chủ thể quản lý có khả năng hoặc có cơ hội tiếp cận với khoa học lập trình, thiết kế xây dựng, bảo trì website, xây dựng các ứng dụng cho các nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về y tế; đồng thời có khả năng vận hành và nâng cấp phát triển các ứng dụng phần mềm, khai thác bảo trì các hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan Bộ. 10 Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”.[15] Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực CNTT. CNTT cung cấp cho các tổ chức bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các hoạt động, đó là: quá trình tự động quản lý, cung cấp thông tin, kết nối giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài cơ quan, và các công cụ sản xuất.
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”, là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11 - cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước. [1] Luật Công nghệ thông tin 2006 định nghĩa “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số ”. “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”. [26] 11 Ứng dụng CNTT trong giải quyết công việc, gồm: 1) Công bố, công khai thông tin, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; Cung cấp dịch vụ công trực tuyến 2) Giải quyết các công việc chuyên môn: Hệ thống thống kê y tế điện tử, báo cáo và cung cấp thông tin y tế; Hệ thống quản lý trạm y tế xã theo tiêu chuẩn; Quản lý bệnh viện, quản lý hồ sơ và bệnh án điện tử; Hiện đại hóa dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Chuyên trang và đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý thắc mắc của người dân, doanh nghiệp; Quản lý điều hành, cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp.
3) Chỉ đạo, điều hành hoạt động quản lý hành chính trong nội bộ cơ quan, gồm: Xử lý văn bản đến và văn bản đi, quản lý nhân sự, kế toán tài chính, quản lý tài sản, thi đua khen thưởng; Tổ chức và điều hành các cuộc họp, hội nghị giữa Bộ, các đơn vị thuộc Bộ và địa phương. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc Giải quyết công việc chính xác và hiệu quả là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước trong cơ quan Bộ Y tế. Nhận thấy được việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng của hoạt động quản lý nhà nước về y tế, nhà quản lý đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin giúp tìm dữ liệu nhanh chóng, lưu trữ dữ liệu gọn gàng, lâu dài và an toàn. Trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước và trước bối cảnh đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò và vị trí của công nghệ thông tin ngày càng được khẳng định, cụ thể: Thứ nhất, ứng dụng CNTT góp phần quan trọng đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý, cung cấp những tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ quá trình giải quyết công việc trong cơ quan Bộ một cách kịp thời và hiệu 12 quả.
Đồng thời, cung cấp những thông tin quá khứ, những căn cứ, những bằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý và giải quyết công việc của cơ quan Bộ Y tế. Thứ hai, ứng dụng CNTT trong giải quyết công việc giúp cho CBCC làm việc tại các đơn vị chuyên môn của Bộ có thể nâng cao hiệu suất công việc và giải quyết xử lý nhanh chóng và đáp ứng được các yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Hồ sơ tài liệu trở thành phương tiện theo dõi, kiểm tra công việc một cách có hệ thống, qua đó cán bộ, công chức có thể kiểm tra, đúc rút kinh nghiệm góp phần thực hiện tốt các mục tiêu quản lý: năng suất, chất lượng, hiệu quả và đây cũng là những mục tiêu, yêu cầu của cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay. Thứ ba, tạo công cụ để kiểm soát việc thực thi quyền lực của các cơ quan, tổ chức.
Góp phần giữ gìn những căn cứ, bằng chứng về hoạt động của các đơn vị chuyên môn trong cơ quan, phục vụ việc kiểm tra, thanh tra giám sát. Đồng thời góp phần bảo vệ bí mật những thông tin có liên quan đến cơ quan, tổ chức và các bí mật quốc gia. Thứ tư, CNTT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Nó chính là nhân tố giúp kết nối và trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu.
Sự phát triển của CNTT, trước hết đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, sau đó tác động đến hoạt động của các khu vực khác trong nền kinh tế như: khu vực chế tạo, chế biến và dịch vụ, quản lý nhà nước… CNTT không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người. Sự kết hợp giữa CNTT, công nghệ viễn thông và công nghệ Internet đã trở thành công cụ đắc dụng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông đa phương tiện do sự kết hợp đó đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, địa lý; biến đổi cách thức giao tiếp đến cách 13 sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc và thay đổi cách thức chăm sóc y tế và giáo dục. CNTT là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Không phải ngẫu nhiên ngày nay không nước phát triển giàu có nào lại nghèo về thông tin và cũng không có nước nào giàu về thông tin mà nghèo và kém phát triển cả. CNTT nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người. Thứ năm, vai trò của CNTT trong hoạt động tác nghiệp, chuyên môn. Các hoạt động tác nghiệp, chuyên môn ngày nay thường liên kết nhiều đơn vị; mối quan hệ đa dạng, phức tạp, khoảng cách giữa các đơn vị, đối tác không chỉ bó hẹp trong mỗi quốc gia mà còn vươn ra toàn thế giới.
Thông tin tác nghiệp cần được lưu trữ ngày càng lớn, thời gian lâu hơn; dữ liệu cần phải đảm bảo an toàn, đáp ứng yêu cầu truy xuất nhanh chóng, chính xác vì vậy chỉ có ứng dụng CNTT mới đáp ứng được các yêu cầu trên. Vai trò của ứng dụng CNTT trong giải quyết công việc ngày càng được khẳng định và tăng cường trong xã hội thông tin hiện nay, nhu cầu phục vụ thông tin cho hoạt động quản lý nói chung và giải quyết công việc nói riêng ngày càng cao và bức thiết. Vì thế, việc ứng dụng CNTT được tổ chức hợp lý và tự động hóa các khâu nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh lực y tế. Hiện nay, công tác ứng dụng CNTT trong giải quyết công việc tại cơ quan Bộ được triển khai đến nhiều nội dung hoạt động như: Toàn bộ những công việc liên quan đến việc soạn thảo văn bản, ban hành văn bản, tổ chức quản lý văn bản, tổ chức một cách khoa học văn bản trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội.