Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Thiết kế một số bài giảng nhằm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề Tam giác bằng nhau theo tiếp cận lớp học đảo ngƣợc Chương 3. Thực nghiệm sƣ phạm 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lịch sử nghiên cứu tiếp cận lớp học đảo ngược Lớp học nghịch đảo là một tiếp cận dạy học nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp học đã và đang phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới. Khái niệm này đƣợc hiểu là phƣơng pháp dạy học theo tiến trình đảo ngƣợc lại so với lớp học truyền thống. Phƣơng thức nghịch đảo này đƣợc hai tác giả là Barbara Walvoord và Virginia Johnson Anderson đề xuất trong quyển sách "Effective Reading: a tool for learning and assesment" xuất bản năm 1998. Trong quyển sách này, các tác giả đã đƣa ra một số phƣơng pháp đánh giá ngƣời học sao cho đem lại hiệu quả học tập và kích thích tính tích cực, tự giác học tập của ngƣời học.
Dựa trên cơ sở đó họ đã đề xuất các hình thức học tập ngoài giờ lên lớp cho ngƣời học nhƣ đọc và tóm tắt trƣớc tài liệu về bài học mới, sau đó trả lời các câu hỏi, làm phiếu bài tập ở mức nhớ và hiểu để lên lớp có thể đạt tới các mức độ học tập cao hơn (vận dụng, so sánh, tổng hợp). Từ đó phƣơng thức này đƣợc phát triển thành tiếp cận dạy học "lớp học đảo ngƣợc" đƣợc ứng dụng trong dạy học nhiều môn học khác nhau tại các trƣờng ở Mỹ. Vào thập niên 1990, tại Khoa công nghệ và Khoa học Ứng dụng của Đại học Harvard, Trƣởng khoa Eric Mazur và giáo sƣ Vật lý và Vật lý ứng dụng Balkhanski (NewsRx Health, 2012) đã sử dụng tiếp cận dạy học này với tên gọi là Peer Instructiom (học lẫn nhau) sau khi giáo sƣ này thấy rằng mặc dù bài giảng của ông đƣợc đánh giá cao nhƣng vẫn có nhiều sinh viên chƣa thật sự hiểu các khái niệm Vật lý trong bài giảng của mình. Theo cách dạy học này, ngƣời học nghe những bài giảng ngắn qua các video sau đó trả lời các câu hỏi kiểm tra khái niệm trên một hệ thống quản lí ngƣời học.
5 Tiếp theo ngƣời học lên lớp để thảo luận nhóm với những ngƣời học khác và giáo viên s quan sát và phản hồi để điều chỉnh những câu trả lời sai. Một trang mạng có tên là Peer Instruction Network cũng đƣợc tạo ra và đến nay đã có hơn 3000 thành viên là giáo viên đến từ các cấp trƣờng khác nhau ở nhiều nƣớc khác nhau trên thế giới kể cả Việt Nam tham gia và chia sẻ kinh nghiệm sử dụng cách tiếp cận dạy học này. Với phƣơng pháp dạy học khơi gợi tính tích cực chủ động của ngƣời học kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, cách tiếp cận dạy học này nhanh chóng hấp dẫn các nhà giáo dục ở Mỹ và một số quốc gia khác. Trong đó Khan Academy là một ví dụ điển hình, đây là một tổ chức phi lợi nhuận đƣợc thành lập với mục đích cung cấp nền tảng giáo dục miễn phí cho mọi ngƣời.
Trang web Khan Academy cung cấp hơn 7700 bài giảng miễn phí bằng video về các môn học khác nhau nhƣ Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Kinh tế, Kĩ năng sống,. điều đặc biệt là phần lớn các bài học đều do một mình nhà sáng lập Salman Khan tạo ra. Nó đƣợc xem nhƣ một kho học liệu miễn phí vô cùng phong phú cho nhiều giáo viên khai thác để ứng dụng tiếp cận dạy học lớp học đảo ngƣợc. Các công trình nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận lớp học đảo ngƣợc trong nƣớc có thể kể đến nhƣ: - Lê Thị Phƣợng & Bùi Phƣơng Anh (2017).
Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. Tạp chí Quản lý giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục. - Nguyễn Chính (2016). Dạy học theo mô hình Flipped Classroom.
Báo Tia Sáng - Bộ Khoa học và Công nghệ, số ra ngày 4/4/2016. - Nguyễn Thế Dũng (2015). Nghiên cứu sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc: những khó khăn, thách thức và khả năng ứng dụng. Tạp chí Khoa học, Trƣờng ĐHSP Hà Nội, 60 (8D), 85-92.
Lớp học nghịch đảo - mô hình dạy học trực tiếp và trực tuyến. Tạp chí khoa học, Trƣờng Đại học Cần Thơ, 34, 56-61. Một số quan điểm về tiếp cận lớp học đảo ngược 1. Khái niệm tiếp cận lớp học đảo ngược Mô hình lớp học đảo ngƣợc là một phƣơng thức dạy học theo mô hình kết hợp.
Mô hình này đã khai thác triệt để những ƣu điểm của công nghệ thông tin và góp phần giải quyết đƣợc những hạn chế của mô hình dạy học truyền thống bằng cách đảo ngƣợc” quá trình dạy học so với mô hình dạy học truyền thống. Sự đảo ngƣợc” ở đây đƣợc hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lƣợc sƣ phạm thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trƣớc đây của ngƣời dạy và ngƣời học [2]. Trong mô hình lớp học đảo ngƣợc, các hoạt động Học ở lớp, làm bài tập ở nhà” (trong mô hình lớp học truyền thống) đƣợc chuyển thành các hoạt động tự học ở nhà qua video bài giảng, học trực tuyến, nghiên cứu bài học qua Internet và khi đến lớp ngƣời học s làm bài tập, trao đổi, chia sẻ các nội dung của bài học, giải quyết các vấn đề, tình huống do GV đặt ra. Ngƣời học s phải làm việc với bài giảng trƣớc thông qua đọc tài liệu, tóm tắt tài liệu, nghe giảng thông qua các phƣơng tiện hỗ trợ nhƣ các clip, bản trình chiếu cũng nhƣ tìm kiếm, khai thác các tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu bài học.
Cấu trúc của tiếp cận lớp học đảo ngược Lớp học đảo ngƣợc đƣợc chia làm hai giai đoạn: 1. Giai đoạn 1: Tìm hiểu kiến thức mới 7 Giai đoạn này diễn ra hoàn toàn ở ngoài lớp học. Giáo viên và học sinh làm việc độc lập với nhau. Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh ở giai đoạn 1 cụ thể nhƣ sau: o Giáo viên: Xác định nội dung, mục tiêu bài học để chuẩn bị bài giảng điện tử cho học sinh sau đó cung cấp học liệu cho học sinh qua mạng.
o Học sinh: Xem video bài giảng, đọc sách và tài liệu, học các kiến thức mà giáo viên đã gửi, ghi chép lại các kiến thức thu nhận đƣợc, tự làm quiz và các bài tập nhận biết. Ghi chú những điều chƣa r , chƣa hiểu, chuẩn bị các câu hỏi dành cho giáo viên. Giai đoạn 2: Đào sâu kiến thức Giai đoạn này diễn ra ở trên lớp học. Học sinh và giáo viên tƣơng tác với nhau, học sinh tƣơng tác với bạn học về bài học đã tìm hiểu trƣớc ở nhà.
Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong giai đoạn 2 cụ thể nhƣ sau: o Giáo viên: Tổ chức lớp học thảo luận theo nhiều hình thức khác nhau, nhận xét, đánh giá, giải đáp các câu hỏi của học sinh, chốt lại kiến thức trọng tâm. Sau đó giáo viên s đƣa thêm các kiến thức mở rộng vào bài giảng. o Học sinh: Đặt câu hỏi để làm r vấn đề, nghe giáo viên giải đáp, giảng giải, làm việc nhóm, thảo luận tình huống, tranh luận, thực hành kĩ năng, ứng dụng các kiến thức. Ngoài ra học sinh có thể tham gia các trò chơi để củng cố kiến thức và nghe nhận xét của giáo viên.
Đánh giá hiệu quả của lớp học đảo ngược với lớp học truyền thống Đánh giá dựa vào mô hình tháp Bloom cho thấy hiệu quả tối ƣu của lớp học đảo ngƣợc. Đây là cách tiếp cận trong dạy học theo hƣớng để ngƣời học chủ động khám phá, tiếp cận kiến thức thông qua quá trình tƣơng tác [12]. 8 Bloom đã đƣa ra 6 mức độ của trí tuệ nhận thức, đƣợc liệt kê theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp mà từ đó chúng ta phân loại đƣợc mức độ phát triển kĩ năng của học sinh nhƣ sau: Hình 1. Thang đo Bloom 1) Nhớ (Remembering): là khả năng nhớ lại, thuật lại thông tin từ các bài học.
Đây là cấp độ thấp nhất của trí tuệ nhận thức. Ví dụ: Viết lại một công thức, học thuộc một định nghĩa toán học. Từ khoá: Nhắc lại, nhận biết, mô tả, trình bày, chọn lựa, gọi tên, liệt kê,… 2) Hiểu (Understanding): là khả năng nắm đƣợc ý nghĩa của tài liệu, thể hiện qua việc chuyển đổi thông tin từ dạng này sang dạng khác, giải thích đƣợc các khái niệm, bài toán. Kĩ năng này cao cấp hơn kĩ năng nhớ.
Ví dụ: Giải thích một định lí, tính chất, tóm tắt một bài toán. Từ khoá: Giải thích, tóm tắt, sắp xếp, so sánh, khái quát … 9 3) Vận dụng (Applying): là khả năng sử dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề trong tình huống mới, bài toán mới. Ví dụ: Vận dụng công thức toán học để giải một bài toán có nội dung, tình huống mới. Từ khoá: áp dụng, vận dung, thiết kế, trải nghiệm, xây dựng, … 4) Phân tích (Analyzing): là khả năng nhận diện và phân tích vấn đề, bằng cách chia nhỏ vấn đề ra thành các phần và chỉ ra mối liên hệ của chúng với tổng thể ban đầu.
Mức độ kĩ năng ở đây cao hơn các mức hiểu và vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung và hình thức của tài liệu. Ví dụ: Giải thích lí do một mệnh đề không đúng. Xây dựng một biểu đồ phân tích sự phát triển chiều cao của cây theo thời gian. Từ khoá: phân tích, lập luận, so sánh, hệ thống hoá,… 5) Đánh giá (Evaluating): là khả năng đƣa ra nhận định, ý kiến, và phán quyết của cá nhân đối với một sự việc, một thông tin, dựa trên các yếu tố và quy chuẩn đã có.
Ví dụ: Phản biện một nghiên cứu, đánh giá một công trình toán học. Từ khoá: đánh giá, phản biện, cho ý kiến, bình luận,… 6) Sáng tạo (Creating): là khả năng tạo ra một sản phẩm cụ thể hoặc một góc nhìn mới mẻ về sự vật, sự việc đã có. Ví dụ: Xây dựng một bài toán mới, xây dựng ra một tác phẩm nghệ thuật, lập kế hoạch tổ chức sự kiện. Từ khoá: Thiết lập, xây dựng, sáng tạo, đề xuất, … Trong lớp học truyền thống, giáo viên chỉ có thời lƣợng hạn chế trong giờ lên lớp để hƣớng dẫn, truyền đạt kiến thức.
Vì thế, khi ở trên lớp học sinh hầu nhƣ chỉ đạt hai mức đầu của thang đo cấp độ tƣ duy là ghi nhớ, thông 10 hiểu.