phần mở đầu và kết luận, Luâ ̣n án gồ m 5 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đế n đề tài luâ ̣n án. Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn của tự do hóa thƣơng mại trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tác động tới thƣơng mại quốc tế. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Tự do hóa thƣơng mại trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và những cam kết của Việt Nam. Đánh giá tác động của tự do hóa thƣơng mại trong ASEAN/AEC tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và một số hàm ý chính sách. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀ I LUẬN ÁN Xu thế tự do hoá thƣơng mại và hội nhập kinh tế quốc tế phát triển và dẫn đến những thay đổi to lớn trên bình điện kinh tế thế giới và sẽ tác động mạnh đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Kể từ khi các thỏa thuận về tự do hóa thƣơng mại đƣợc ghi nhận trong các Hiệp định song phƣơng và đa phƣơng, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập đến vấn đề này.
Nội dung tổng quan 1. Các nghiên cứu về đặc điểm, vai trò và xu hướng của tự do hóa thương mại Tự hóa thƣơng mại đƣợc biểu hiện cụ thể trong các FTA song phƣơng và đa phƣơng. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về đặc điểm cũng nhƣ nội dung của tự do hóa thƣơng mại, các công trình nghiên cứu đều thông qua việc phân tích các Hiệp định thƣơng mại tự do. Trong bài: Hiệp định thương mại tự do (FTA): Cơ hội, thách thức đối với thương mại quốc tế Việt Nam [13], Hà Văn Hội đã chỉ ra rằng: mỗi FTA có những phạm vi và nội dung khác nhau, nhƣng chúng đều có những đặc điểm là phạm vi điều chỉnh rộng, mức độ tự do hoá cao và hình thành trên cơ sở liên kết giữa các đối tác thuộc các khu vực địa lý khác nhau và bất cứ một FTA nào đƣợc hình thành đều mang động cơ chính trị của các bên tham gia và các FTA này thƣờng đƣợc dựa trên nền tảng là một mối quan hệ chính trị, ngoại giao tốt đẹp.
Tuy nhiên, động cơ kinh tế đóng vai trò quyết định trong việc xác lập nội dung và hình thức các liên kết FTA. Khi xu thế tự do hóa thƣơng mại phát triển đã có những tác động to lớn tới phát triển kinh tế. Để minh chứng cho điều này, các tác giả Ashok Parikh & Corneliu Stirbu trong cuốn sách “Relationship between Trade Liberalisation, Economic Growth and Trade Balance: An Econometric 8 z Investigatio” [38] đã nghiên cứu 42 nƣớc đang phát triển của châu Á, châu Phi và Mỹ Latin, trong đó đầu tiên các tác giả xem xét các tác động của tự do hóa thƣơng mại đối với tăng trƣởng kinh tế, cán cân thƣơng mại và tài khoản vãng lai (nhƣ tỷ lệ phần trăm của GDP). Cả hai bảng dữ liệu và dữ liệu quốc gia của nƣớc đƣợc sử dụng để đo lƣờng tác động của tự do hóa đối với tăng trƣởng kinh tế trong nƣớc tính đến các khoản PPP từ các dữ liệu có sẵn trong Heston, Summers và Aten (2001) nghiên cứu.
Tăng trƣởng kinh tế trong nƣớc thƣờng có tác động tích cực đến tự do hóa đối với nhiều nƣớc trong mẫu của nghiên cứu. Các tác giả cũng phân tích tác động của tăng trƣởng đối với cán cân thƣơng mại và tài khoản vãng lai để xem xét liệu tăng trƣởng kinh tế cao hơn nhờ tự do hóa dẫn đến ảnh hƣởng xấu đến cán cân thƣơng mại hay không. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho phép kiểm soát các biến trong cả hai bộ hồi quy nhƣ các điều khoản của thƣơng mại. Đồng thời mô hình đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã cho thấy tự do hóa thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế với tốc độ cao hơn so với thời gian trƣớc khi thực hiện tự do hóa.
Nghiên cứu này cũng sử dụng các dữ liệu mới nhất hiện có trên GDP thực tế để đánh giá mối quan hệ giữa tự do hóa và tăng trƣởng, tự do hóa và cán cân thƣơng mại và cũng tác động của tỷ giá hối đoái hoặc các điều khoản thƣơng mại chính sách đối với cán cân thƣơng mại. Về xu hƣớng phát triển của tự do hóa thƣơng mại tác giả Võ Đại Lƣợc trong bài: Tự do hóa thương mại và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề an ninh (2004), Tạp chí Những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới chỉ rõ[26]: từ thập kỷ 1990 đến nay tự do hoá thƣơng mại và hội nhập kinh tế quốc tế đã có bƣớc phát triển đột biến mạnh mẽ thể hiện trên các mặt: sự ra đời của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) bao gồm gần nhƣ tất cả các nền kinh tế thế giới; các khu thƣơng mại tự do phát triển mạnh mẽ từ EU, NAFTA, AFTA đến các khối kinh tế khác ở hầu khắp các châu lục; các Hiệp nghị thƣơng mại 9 z tự do song phƣơng phát triển chƣa từng có giữa các quốc gia với nhau nhƣ Mỹ - Singapore, Mỹ - Thái Lan…đến các Hiệp nghị thƣơng mại tự do giữa các khối thƣơng mại tự do với các quốc gia nhƣ: ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản…Hàng rào thuế quan giữa các nƣớc phát triển với nhau đã giảm xuống còn 3%, mức thuế quan quân bình của các nƣớc đang phát triển cũng đã đƣợc hạ thấp xuống còn khoảng 14%. Những cam kết giảm bỏ hàng rào bảo hộ đang là nội dung chủ yếu của các cuộc đàm phán đa phƣơng và song phƣơng hiện nay. Sự tiến triển của tự do hoá thƣơng mại và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay có thể cho phép dự báo những xu hƣớng chính trong thời gian từ nay đến năm 2030 nhƣ: Tổ chức thƣơng mại thế giới sẽ trở thành tổ chức kinh tế toàn cầu; sẽ hình thành ngày càng đầy đủ một hệ thống thể chế kinh tế toàn cầu, hệ thống thể chế này sẽ quy định hệ thống thể chế kinh tế của các quốc gia; sẽ hình thành một hệ thống cơ sở hạ tầng toàn cầu phục vụ cho nền kinh tế toàn cầu nhƣ: các đƣờng cao tốc xuyên lục địa, các tuyến hàng hải cao tốc xuyên đại dƣơng, các tuyến hàng không cao tốc, các hành lang thông tin toàn cầu; hệ thống giáo dục, đào tạo toàn cầu sẽ hình thành với những trung tâm giáo đục toàn cầu, có chƣơng trình giáo đục chung, hệ thống bằng cấp chung - đủ sức đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu; các công ty xuyên quốc gia sẽ hoạt động mạnh mẽ và sẽ là hình thức kinh doanh phổ biến ở mọi quốc gia; các nền kinh tế quốc gia vẫn sẽ tồn tại thích ứng với tình hình mới, các khối kinh tế khu vực có thể vẫn sẽ tồn tại, nhƣng với mức độ hội nhập cao hơn mức hội nhập toàn cầu.
Những xu thế trên đang trở nên hiện thực: APEC đã chấp nhận tự do hoá thƣơng mại và đầu tƣ vào năm 2020. 34 nền kinh tế của Tây bán cầu đã nhất trí thành lập một vùng thƣơng mại tự do ban đầu năm 2005. EU đã nhất trí với 12 nƣớc Địa Trung hải thành lập khu vực tự do thƣơng mại vào năm 2010. Các quốc gia đông dân nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Nga, Braxin đã thức tỉnh và 10 z có chiến lƣợc hội nhập kinh tế sâu rộng; Các nền kinh tế OECD đã có tiến triển to lớn về cơ cấu kinh tế, về tự do hoá thƣơng mại và đầu tƣ.Có thể vào năm 2030 nền kinh tế toàn cầu sẽ hình thành về cơ bản với những xu thế trên.
Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại a) Các nghiên cứu định tính về tác động của tự do hóa thương mại Về những tác động tích cực của tự do hóa thƣơng mại, trong bài: Trấn an mối quan ngại của người lao động về tự do hóa thương mại, của David H. Feldman đăng trên Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Giáo sƣ kinh tế trƣờng Đại học William và Mary tại Williamsburg, bang Virginia (2007) đã nhấn mạnh đến ƣu điểm của tự do hóa thƣơng mại[6]. Ông cho rằng: Ƣu điểm của mở cửa thƣơng mại là mức giá thế giới thƣờng cung cấp thông tin chính xác về mức độ khan hiếm hơn là các mức giá đã bị bóp méo dƣới áp lực của một nhóm lợi ích. Giá cả toàn cầu khích lệ ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và các công ty sử dụng các nguồn lực nhằm tối đa hóa giá trị thu nhập quốc dân.
Các công ty và ngƣời tiêu dùng trong các nền kinh tế mở thƣờng có nhiều lựa chọn hơn để tiêu dùng các hàng hóa chất lƣợng cao với mức giá rẻ. Những nền kinh tế này thƣờng có tốc độ phổ biến công nghệ nhanh hơn nếu công nghệ đi kèm với các đầu vào nhập khẩu hoặc với đầu tƣ nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, mở cửa thƣơng mại còn có ƣu điểm là nó làm giảm quyền lực thị trƣờng mà các ngành công nghiệp nội địa tập trung có trong tay và có quyền tự tung tự tác trên thị trƣờng nội địa. Mở cửa thƣơng mại là một chính sách cạnh tranh rất có hiệu quả.
Điều này đặc biệt đúng với các nền kinh tế nhỏ đang phát triển, trong đó, nhiều ngành công nghiệp nội địa chỉ có một hoặc hai công ty lớn. Về cơ hội và lợi ích của tự do hóa thƣơng mại, tác giả Nguyễn Trần Bạt, trong cuốn sách “Cải cách và sự phát triển” (2005) [3] cũng cho rằng: tự do thƣơng mại mang lại những lợi ích chung, tạo ra sự tiến bộ và phát triển 11 z của toàn nhân loại. Tuy nhiên, do đặc điểm và hoàn cảnh riêng của mình, các nƣớc thế giới thứ ba còn nhận đƣợc nhiều lợi ích cụ thể to lớn khác. Trƣớc hết, tự do thƣơng mại tạo cơ hội cho các nƣớc nghèo tiếp nhận thêm nguồn lực phát triển kinh tế.
Tự do thƣơng mại thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách chính trị - xã hội. Cuối cùng, tự do thƣơng mại khuyến khích phát triển một nền văn hóa mới. Tự do thƣơng mại thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa về văn hoá, góp phần khắc phục những yếu tố lạc hậu trong văn hóa của thế giới thứ ba. Lợi ích của tự do hóa không những đƣợc thể hiện trong lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa mà còn đƣợc biểu hiện trong lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ, điều này đã đƣợc Atthias Lucke và Dean Spinanger phân tích trong trong bài “Liberalizing international trade in service: Challenges and Opportunities for Developing countries.