CHƯƠNG 1 NHU'NG VAN DE CO BAN VE TU DO HOA TAI CHINH 1. KHÁI NIỆM TÀI CHÍNH, KIỀM CHE TAI CHINH VA TU DO HOA TAI CHINH †. Khái niệm tài chỉnh Đề hiểu rõ về tự do hoá tà ¡ chính, trước hết cần làm sáng tô khái niệm tài chính và kiểm chế tải chính. Tài chính lã tổng thể các quan hệ kinh tế, gắn với việc phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn lực tải chính thông qua việc tao lập, sử dụng các quỹ tiên tệ nhằm thực biện các mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định [8].
Phạm trù phân phối đã có tử lâu, tuy nhiên, không phải quan hệ phân phối nào cũng là quan hệ tải chính. Qua phân tích lịch sử ra đời và phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, vào đầu thời kỳ công xã nguyên thuỷ, mặc dầu quá trinh phần phối đã diễn ra trong nội bộ các thị tộc và bộ lạc nhưng vẫn chưa có hoạt động của tài chính, bởi lề đấy chỉ là một hình thức phân phối hiện vật. Còn phân phối tại chỉnh không phải thể hiện dưới hình thức hiện vật mà là giá trị - phân phối bằng tiên để hình thành và sử dụng các quỹ tiễn tệ. Do đó, quan hệ kinh tế trong quan hệ tai chính là quan hệ tiên tệ - một quan hệ kính tế chỉ tồn tại trong kinh tế hãng hoá.
Thông qua các quan hệ tài chính giữa các tầng lớp dân cư, giữa các tầng lớp dân cư với nhà nước, quan hệ giữa nhà nước với toàn bộ các quan hệ kinh tế khác trong xã hội để bình thành và sử dụng các quỹ tiễn tệ nhằm đám bao cho các hoạt động kinh tế đó và làm cho nền kính tế tôn tại và phát triển, Toàn bộ các quan hệ kinh tế thê hiện dưới hình thái tiễn tệ gắn với các nguồn lực tải chính để hình thành và sử dụng các quỹ tiên tế trong nên kinh tế hàng hoà đều là quan hệ tài chính, Trong đời sống kinh tế xã hội, tài chỉnh có hai chức năng: Chức năng phần phối và chức năng giám độc, trong đó nhiệm vụ cụ thế của chức năng thứ at nhất là huy động vốn và phân phối vễn còn chức năng thứ hai là giám sắt các hoạt động kinh tế nhằm mạng lại hiệu quả cao nhất, Các chức năng của tài chính cỏ mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ tác động qua lại lẫn nhau. Việc phân phối nguồn vến cho các hoại động kinh tế đùng mục đích sẽ làm cho việc sử dụng nguồn vốn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việc giám sát các hoạt động tài chính thông qua chức năng giám đốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả các hoạt động của một nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu trong chỉnh sách kinh tế của mỗi quốc gia.
Và hệ thống tài chính phát triển sẽ có tác động tích cực đến việc tăng trưởng kinh tế, Do đó, nó giữ một vai trò quan trọng trong việc kích thích nên kinh tế tăng trưởng, Vì vậy, các chính sách của Chính phủ cần phải hướng đến hệ thống tài chỉnh phát triển. Vậy giữa kiểm chế tài chính và tự do hoá tải chính, cơ chế nào sẽ tốt hơn? 1. Khải niệm kiểm chế tài chính Kiểm chế tải chính là sự bóp méo các hoại động của thị trường tài chính do có sự can thiệp và kiểm soát không theo quy luật thị trường của Chính phủ [17]. Chính phú thưởng xuyên can thiệp quá mức vào hoạt động và các quá trinh tài chính bằng những biện pháp mang tính áp đặt với mục đích nhằm gia tăng dòng chảy của các nguồn lực tài chính trong nước về cho khu vực công mà không cần phải tầng thuế.
VÌ vậy, giá cả ở khu vực tài chính thường vượt ra khỏi điểm cân bằng thị trường của chúng. * Tác động của những can thiệp của Chúnh phủ vào hệ thẳng tài chính Băng cơ chế kiểm chế tài chính, Chính phú có thể bù đấp thâm hụt của mình vả tải trợ cho các ngành được xem là công cụ mỗi nhọn của nên kinh tế. Trong khi đỏ, chính những biện pháp can thiệp của Chính phủ đã khiến chơ khu vực tư nhân không có cơ hội vay vốn tín dụng, không có khả năng phái triển dau tư dẫn tới hạn chế tăng trưởng kinh tế và gây bắt én định kinh tế vĩ mô, Chính phủ có thể can thiệp vào hệ thông tài chỉnh bằng mội hoặc tât cả các công Cụ sau: s* Quy định trần lãi suất Chính phủ có thể đưa ra hoặc trần lãi suất tiên gửi hoặc trần lãi suất cho vay hoặc cả bai. Tác động của việc quy định trân lãi suất lá làm cho lãi suất thực trở nên méo mổ và không phản ánh được khan hiểm của đồng vốn, Nhà kính tế học Fry ( 1995) đã chỉ ra tác động của việc giữ lãi suất thực thấp hơn mức cạnh tranh trên thị trường tự đo là: ~ Lãi suất thấp không kích thích tiêu dùng trong tương lại mã kích thích tiếu dùng trong hiện tại, đo đó tiết kiệm sẽ giảm đưới mức có thé.
Những người cho vay tiểm năng sẽ tỏ ra thích đầu tư vào các dự án sinh lợi thấp của mình hơn là ký thác tiên vào ngân hàng. Những người đi vay ngân hàng có thể nhận được các khoản vay với lãi suất thần hơn có thể sẽ chọn đự án đầu từ sinh lợi thấp hơn, Đội ngũ những người đi vay sẽ cô thêm những nhà đầu tư cỏ mức sinh lợi dự ăn thấp mà họ không thể hoặc không muôn vay khi lãi suất thực đạt mức có thể trên thị trưởng tự do. Trần lãi suất cho vay còn dẫn đến việc tín dụng không được phan phối dựa trên suất sinh lợi mong đợi của các dự án đầu tư cạnh tranh mà dựa trên chi phí giao dich và mức độ an toàn của các dự an. + Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tôi thiểu NHTW thường quy định cho các NHYM phải trích một tỷ lệ nhất định trong tông số các khoản ký thác đem gởi tại NHTW để đảm bảo khả năng thanh toán cho các NHTM, Mat trải của việc này là làm giảm khối lượng nguồn quỹ cho vay và làm gia tầng quá mức khoảng cách giữa lãi suất liền gửi và lãi suât cho vay, Tác « ‘at + x kẻ * way nme 4 1 kì — ` a K £ động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực chất là khoản cho vay bắt buộc không trả lãi của NHTW tử NHỮM.
Một mặt nào đó có thể xem đây là sự chí định tín dụng. s Chỉ định tin dụng Một số Chỉnh phủ chỉ định cho các tô chức tài chính trung gian của họ phải đầu tư một phần nguồn quỹ cho vay vào một khu vực nhất định với lãi suất thấp. Các khu vực được chỉ định thường là các khu vực có năng suất thấp vàihoặc thời gian khẩu hao rất lâu, mã trong điều kiện cạnh tranh, các nhà đầu tư có các dự án trong khu vực này không có lợi thế khi vay vốn. Khu vực này cũng bao gồm một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quá nhưng nhận được bao hd của nhà nước hoặc một số doanh nghiệp có độ rủi ro cao đo phụ thuộc vào tự nhiền.
Tác động của chương trình chỉ định tín dụng là: Thứ nhất là làm cho các ngân hàng thụ động trong việc cùng cấp tỉn dụng một cách có hiệu quả, nhiều cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi cao hơn nhưng không nhận được vẫn tín dụng để đầu tư. Thứ hai là tạo ra tính ÿ lại của khu vực được báo hệ, họ không tích cực cải thiện sản xuất, Các khoản tín dụng cấp cho khu vực này thường được sự bảo lãnh của nhà nước, Khi không thanh toán được nợ khi đến hạn thì nhà nước sẽ đứng ra trả khoản nợ này bằng cách này hay cách khác. Do đó, một chương frinh chỉ định tín dụng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự Gn định vĩ mô. Ngoài ra, những biện pháp về kiểm soát ngoại hỏi, hạn chế sự phát triển của thị trường tư nhân.
cũng góp phản tạo ra kiểm chế tải chính, Nói têm lại, nhà nước không nên can thiệp trực tiếp vào hệ thông tài chính vì sự can thiệp nảy làm mất đi tính chủ động của hệ thông tải chỉnh và làm cho hệ thống tài chính không phát triển được, điều này ảnh hướng tiêu cực đến việc kích thich nan kinh tế tăng trưởng. Một hệ thống tài chính được tự do hơn sẽ tốt hơn cho mục tiểu tăng trưởng kinh tế, 1,1,3, Khái niệm tự do hoá tài chính Trái ngược với khái niệm kiểm chế tải chính là tự áo hoá tài chính. Tự do hoá tài chính là một nên tài chính mà trong đô không có hoặc chỉ có sự can thiệp rất hạn chế của Chính phủ vào hoạt động và các quá trình tài chính, Trong một thị trường mà áp dụng cơ chế tự do hoá tài chính, các quan hệ, các giao dịch tài chính vận động theo cơ chế thị trường, các dòng vẫn được tự do lưu chuyển từ những nơi có hiệu suất sinh lợi thắp đến những nơi có hiệu suất sinh lợi cao ma không gặp phải mội rào cần nào {19}, Có thể phân chia tự do hoá tài chỉnh thành hai cấp độ sau: Thứ nhất là tự đo hoá tải chính trong phạm vị quốc gia, cụ thể là việc xoá bở kiểm soát lãi suất, xoá bỏ việc phân bố tín dụng, tăng khá năng cạnh tranh của các ngân hàng, các tổ chức tài chính trong việc thu hút vẫn đầu tư, giảm bớt sự can thiệp của Chính phủ trong phân bê tín dụng, trong bảo lãnh các khoản vay. Thứ bai là mở rộng tự do hoá tải chính thể hiện qua việc bãi bỏ các biện pháp kiểm soát vốn và những rào cản trong quản lý ngoại hồi, tiễn tới tự do hoá trong lĩnh vực chuyến đổi tiên 18.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc !É, tự do hoá tài chính là xu thể tất yêu của bất kỷ quốc gia nào trên thể giới, 1. NỘI DUNG THỤC HIỆN TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Nhìn chung, tự do hoá tài chính bao gồm 4 nội dung cơ bản sau: 1.Tự do hoá lãi suất Cơ chế tự do hoá lãi suất là cơ chế trong đó nhà nước không ấn định các mức lãi suất, đẳng thời cũng không khống chế lãi suất mà để lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường, các ngân hàng được quyên xác định và công bê lãi suất kinh đoanh của mình để áp dụng trong việc huy động vốn va cho vay [19].