MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Trải qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh đã dần vươn lên, trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp (LMICs – Lower Middle Income Countries) như hiện nay. Các thành tựu đạt được có thể kể đến như: Tăng trưởng kinh tế đều trên 5% trong suốt giai đoạn 2011 đến nay, xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu nổi bật với tỷ lệ đói nghèo giảm từ 46,9% giai đoạn 1990 – 1992 xuống còn khoảng 5,35% vào năm 2018, chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm trung bình khá trên thế giới. Thêm vào đó, Việt nam đang ngày càng tích cực tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và khu vực.
Từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2009, tính đến nay Việt Nam đã tham gia vào 16 hiệp định thương mại tự do (FTA). Xuất khẩu theo đó được đẩy mạnh, vốn đầu tư, công nghệ cũng có những bước tiến đáng kể do được tiếp cận với nguồn lực của nước ngoài. Dựa trên những thành tựu đã đạt được, chiến lược phát triển kinh tế xã hội (PTKTXH) của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đề ra mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đồng thời luôn nhấn mạnh vào tăng trưởng phải đi kèm với phát triển văn hóa, đảm bảo công bằng xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi cho người dân. Như vậy có nghĩa là công cuộc PTKTXH của Việt Nam rất chú trọng đến sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế, không chỉ tập trung vào tăng trưởng mà còn quan tâm đến vấn đề phát triển con người.
Đây cũng là quan điểm phát triển kinh tế đúng đắn và là mục tiêu của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay. Mặc dù đạt được các kết quả tích cực như vậy, nhưng những mục tiêu mà chiến lược đã đề ra liệu có đạt được? Các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế để đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại được các chuyên gia kinh tế đánh giá là không thể đạt được dựa trên nhiều tiêu chí. Chẳng hạn như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đầu người năm 2018 là 2.587 USD/người, chưa đạt mức 5.000 USD/người. Các tiêu chí về tỷ trọng nông lâm thủy sản trong GDP, tỷ lệ đô thị 1 hóa… cũng cách xa mức tiêu chí cần có của nước công nghiệp hiện đại.
Các mục tiêu về phát triển con người và xã hội cùng còn cần nhiều nỗ lực hơn mới có thể hoàn thành. Chỉ số HDI vẫn thuộc nhóm trung bình cao chứ chưa đạt mức cao như mục tiêu đề ra. Bất bình đẳng vẫn chưa được cải thiện, tỷ lệ nghèo vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng và nhóm dân cư khác nhau. Nói như vậy nghĩa là những mục tiêu phát triển chưa kịp hoàn thành vào năm 2020 sẽ trở thành cái đích cần nhanh chóng đạt được và vượt qua từ giai đoạn bản lề 10 năm tiếp theo.
Trong khi đó, nhiều thách thức mới xuất hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, nhất là sau năm 2020. Cách mạng công nghệ 4.0) ngày càng lan rộng, công nghệ mới được ứng dụng ngày càng nhiều vào hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi để thích ứng. Cách mạng xanh khiến các quy định về bảo vệ môi trường trở nên nghiêm ngặt hơn, đe dọa đến xuất khẩu nông thủy sản của Việt Nam. Tình hình thế giới sẽ có nhiều thay đổi: căng thẳng giữa các nước leo thang, dịch bệnh, biến đổi khí hậu (BĐKH) gia tăng.
trong khi Việt Nam lại phụ thuộc nhiều vào nước ngoài từ nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho đến xuất khẩu. Để có thể phát triển kinh tế một cách toàn diện, bền vững, hướng đến phát triển con người như những gì đã đề ra trong bối cảnh như vậy, việc huy động các nguồn tài chính cho phát triển đóng vai trò quan trọng. Nguồn tài chính huy động được sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy các dự án phát triển con người và xã hội,… Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực tài chính của Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều khó khăn: vốn vay nước ngoài ngày càng trở nên đắt đỏ hơn, ngân sách nhà nước (NSNN) còn eo hẹp trong khi nhu cầu chi tiêu vẫn rất lớn,. Việc nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp để tận dụng tối đa nguồn tài chính đối với Việt nam chính vì vậy càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, bởi những mục tiêu chưa đạt được vào năm 2020 cần phải nhanh chóng đạt được trong giai đoạn tiếp theo, trong đó cần tính đến đầy đủ bối cảnh môi trường kinh tế xã hội trong và ngoài nước ngày càng có nhiều các thách thức đối với khả năng huy động tài chính của Việt Nam.
Chúng ta rất cần một sự 2 chuẩn bị cẩn thận về mặt lý luận và định hướng mới trong vấn đề tập trung nguồn lực tài chính cho phát triển. Nghiên cứu về huy động tài chính cho phát triển giúp các nhà làm chính sách hiểu được bức tranh thực trạng huy động tài chính trong hiện tại, từ đó có những giải pháp khắc phục kịp thời; đồng thời, có được những quan điểm đúng đắn về huy động tài chính để tăng hiệu quả huy động tài chính trong tương lai. Do vậy, học viên quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: “Huy động nguồn tài chính cho phát triển ở Việt Nam: thách thức và định hướng cho giai đoạn sau năm 2020” 2. Tổng quan các nghiên cứu về nguồn tài chính cho phát triển 2.
Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu nước ngoài về nguồn tài chính cho phát triển đã bao phủ toàn diện từ nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực trạng các nguồn tài chính, xu hướng vận động của các nguồn tài chính cho đến giải pháp tăng huy động nguồn tài chính,… ở phạm vi địa phương, quốc gia cho đến thế giới. Nghiên cứu về cơ sở lý luận của huy động nguồn tài chính cho phát triển có một số nghiên cứu tiêu biểu sau. Michalopoulos (1975) là một trong những nghiên cứu đặt nền móng cho ý tưởng hình thành một hệ thống tài chính để các nước đang phát triển có thể vay vốn từ các nước phát triển. Trong giai đoạn nghiên cứu, giá dầu, thực phẩm và các chi phí khác được dự báo sẽ tăng cao, trong khi giá nguyên liệu thô giảm mạnh gây ảnh hưởng đến cán cân thương mại của các nước đang phát triển do các nước này nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm chế biến và xuất khẩu nguyên liệu thô.
Tác giả đề xuất hai phương án giúp các nước đang phát triển đối mặt với thách thức này. Đó là: thứ nhất, thiết kế một hệ thống thế chấp để hỗ trợ các nước đang phát triển vay vốn từ thị trường vốn của các nước phát triển. Thứ hai, thiết lập một quỹ viện trợ lương thực cho các nước có thu nhập thấp nhất trong số các nước đang phát triển. Shende (2002) đã nêu ra các nguồn tài chính có thể huy động cho các nước phát triển và vai trò của những nguồn này.
Theo đó, tác giả chia nguồn tài chính cho phát triển thành nguồn vốn trong nước và ngoài nước. Đối với nguồn vốn nước ngoài, tác giả đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò của ODA. Đối với 3 nguồn vốn trong nước, tác giả cho rằng vai trò của NSNN là rất quan trọng tại các nước đang phát triển, trong đó cần chú ý đến thu từ thuế. Về thực trạng và xu hướng vận động của nguồn tài chính, nguồn vốn ODA, nguồn thu thuế và nguồn tài chính tư nhân thông qua hợp tác công tư (PPP) là những nguồn tài chính được các học giả quan tâm nghiên cứu.
Phần lớn các nghiên cứu về nguồn vốn ODA đều cho rằng nguồn vốn ODA sẽ giảm dần tại các LMICs. Nghiên cứu của Talknice Saungweme (2012) về xu hướng của nguồn vốn ODA tại các nước đang phát triển, tập trung vào châu Phi kết luận rằng xu hướng sụt giảm nguồn vốn ODA tại LMICs là tất yếu. Cũng nghiên cứu về xu hướng vận động của vốn ODA nhưng ở khu vực đảo Thái Bình Dương, Matthew Dornan và Jonathan Pryke (2017) đã chỉ ra xu hướng giảm đi về vốn ODA cho các đảo Thái Bình Dương dựa trên số liệu định lượng có sẵn từ năm 2000. Bên cạnh các nghiên cứu về vốn ODA, các phương thức huy động tài chính khác cũng có nhiều nghiên cứu.
Carlo Cottarelli (2011) nhận diện các vấn đề và những bài học kinh nghiệm về nguồn thuế không bao gồm thu thuế từ tài nguyên tại các nước đang phát triển, đồng thời nêu ra những mục tiêu của thu thuế, những điểm tương đồng và khác biệt trong thách thức mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt. James Leigland (2018) nghiên cứu về PPP tại các nước đang phát triển kết luận rằng mặc dù nguồn tài chính huy động được từ phương thức này chiếm đến 25% tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển, nhưng hiệu quả lại không được như kỳ vọng đề ra. Những hạn chế của PPP tại các nước đang phát triển đó là: chi phí cao hơn trong khi lợi ích đạt được ít hơn so với tính toán, trong phần lớn các trường hợp nguồn tài chính tư nhân lại không phải là nguồn tài chính đóng góp chính vào các dự án PPP mà chính phủ, ngân hàng quốc doanh mới là nhà đầu tư chính, các đơn vị phụ trách PPP là một điểm yếu vì đội ngũ nhân sự thiếu kỹ năng và chuyên môn,… Nghiên cứu của Wei Xiong, Bin Chen, Huanming Wang và Dajian Zhu (2018) nhằm chỉ ra lý do của sự áp dụng chậm trễ PPP tại Nigeria thông qua điều tra khảo sát các chuyên gia xây dựng. Tham nhũng trong chính phủ là một nguyên nhân lớn.
Phân tích nhân tố của nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân khác như: thiếu sự đồng thuận 4 giữa các nhà hoạch định chính sách, sự bất ổn chính trị, thiếu hiểu biết về PPP và chi phí tham gia cao. Ngoài ra, các giải pháp và định hướng giúp tăng huy động nguồn tài chính cho phát triển tại các nước đang phát triển cũng được chỉ ra ở nhiều nghiên cứu. Chẳng hạn như trong nghiên cứu của Wilfried Guth, Frankfurt (1979), tác giả cho rằng trong dài hạn, nguồn vốn nước ngoài không thể đảm bảo bằng một cơ sở vốn an toàn, bền vững trong nước.