Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Minh Nguyệt tập trung vào chủ đề tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên tại các trường sĩ quan thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, tự đánh giá năng lực (self-efficacy) là hướng tiếp cận được nhiều tác giả quốc tế khẳng định về ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn khiêm tốn, chưa có công trình đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, đặc biệt là khoảng trống nghiên cứu về tự đánh giá năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong môi trường trường sĩ quan quân sự.

Trong hoạt động sư phạm quân sự, người giảng viên không chỉ xác định công việc cần làm mà quan trọng hơn là nhận thức được mức độ hoàn thành nhiệm vụ của bản thân. Khi giảng viên tự đánh giá năng lực ở mức cao, họ có xu hướng nỗ lực, kiên trì, sẵn sàng đối mặt và xem khó khăn là thử thách cần vượt qua. Ngược lại, mức độ tự đánh giá năng lực thấp dẫn đến tâm lý nghi ngờ khả năng của bản thân, né tránh nhiệm vụ khó hoặc nhiệm vụ mới. Thực tiễn giảng dạy tại các trường sĩ quan cho thấy một bộ phận giảng viên chưa đánh giá cao năng lực bản thân, thiếu tự tin, ngại tiếp cận công nghệ và phương pháp giảng dạy mới, dẫn đến hiệu quả giảng dạy còn hạn chế. "Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011 - 2020" cũng đã xác định: trình độ, năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp so với yêu cầu, nhiệm vụ; việc đổi mới phương pháp giảng dạy còn thiếu tính toàn diện và đồng bộ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, trình độ ngoại ngữ, tin học của nhà giáo còn thấp. Do đó, việc nghiên cứu tự đánh giá năng lực của giảng viên ở các trường sĩ quan mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu lý luận và thực tiễn tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; từ đó đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy, góp phần cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động giảng dạy của đội ngũ này.

Để đạt được mục đích trên, luận án triển khai 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;
  2. Xây dựng những vấn đề lý luận cơ bản về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
  4. Phân tích chân dung tâm lý về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
  5. Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Luận án xây dựng các giả thuyết khoa học bao gồm:

  1. Tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đang ở mức độ trung bình và không có sự đồng đều giữa các mặt biểu hiện.
  2. Giảng viên các trường sĩ quan có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm hơn và có trình độ học vấn cao hơn thì có mức độ tự đánh giá năng lực giảng dạy cao hơn.
  3. Có sự khác biệt về mức độ tự đánh giá năng lực giảng dạy giữa nhóm giảng viên nam và nhóm giảng viên nữ, cũng như giữa nhóm giảng viên ở các trường sĩ quan khác nhau.
  4. Tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan chịu sự ảnh hưởng của 7 yếu tố: Trải nghiệm trong hoạt động giảng dạy; Sự học hỏi kinh nghiệm; Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên; Trạng thái cơ thể, cảm xúc của giảng viên; Sự lạc quan của giảng viên; Cảm nhận hạnh phúc trong công việc của giảng viên; Sự hài lòng trong công việc của giảng viên.
  5. Việc nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên đòi hỏi thực hiện đồng bộ các biện pháp: tổ chức tốt những hoạt động nhằm tăng cường trải nghiệm cho giảng viên; xây dựng môi trường sư phạm quân sự lành mạnh; phát huy vai trò của lãnh đạo - chỉ huy các cấp và các giảng viên khác.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Khách thể nghiên cứu: Giảng viên tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các mặt biểu hiện của tự đánh giá năng lực và các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu sâu khía cạnh tự đánh giá năng lực giảng dạy ở phạm vi nhận thức, sự tin tưởng về hiệu quả có thể đạt được khi thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy trên lớp, gồm 3 mặt biểu hiện: (1) Tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy; (2) Tự đánh giá năng lực thu hút học viên; (3) Tự đánh giá năng lực quản lý lớp học; cùng hệ thống các yếu tố ảnh hưởng.
  • Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu được tiến hành trên đội ngũ giảng viên tại 4 cơ sở đào tạo đại diện cho các vùng miền và chuyên ngành khác nhau trong quân đội: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Thông tin.
  • Phạm vi thời gian: Các số liệu phục vụ nghiên cứu của luận án được khảo sát, điều tra và tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo các nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm nghiên cứu về các mặt biểu hiện của năng lực giảng dạy và tự đánh giá năng lực giảng dạy: Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001) xác định năng lực giảng dạy bao gồm năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy; năng lực quản lý lớp học và năng lực thu hút sinh viên. Tại Việt Nam, nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2008) chia năng lực giảng dạy thành năng lực hiểu trình độ học sinh, tri thức và năng lực hiểu biết, chế biến tài liệu, truyền đạt tài liệu và năng lực ngôn ngữ. Các tác giả tại Trường Sĩ quan Chính trị (2016) tiếp cận năng lực giảng dạy dựa trên các đặc điểm tâm lý cá nhân. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) xác định 5 nhóm năng lực giảng dạy, trong khi Nguyễn Thị Thanh Thảo và Nguyễn An Phú (2020) nhấn mạnh nền tảng chuyên môn, phát triển giáo trình, tổ chức lớp học và ứng dụng công nghệ.

Về các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực, Bandura (1997) xác định 7 khía cạnh áp dụng cho giáo viên phổ thông. Schwarzer, Gerdamarie Schmitz và Gary Daytner (1999) phân loại thành 4 mặt: hoàn thành công việc, phát triển kỹ năng, tương tác xã hội và đối phó với căng thẳng. Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001) cấu trúc tự đánh giá năng lực giảng dạy thành 3 mặt: tự đánh giá năng lực quản lý lớp học, tự đánh giá năng lực thu hút sinh viên, và tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy. Mô hình này được kế thừa và vận dụng bởi Heneman và cộng sự (2006), Klassen (2009), Morris (2010), và Muhammet Emin cùng cộng sự (2017).

Nhóm nghiên cứu về thang đo tự đánh giá năng lực: Bandura (1997) chỉ ra 3 chiều cạnh đo lường: Mức độ, Tính tổng quát và Sức mạnh, với nguyên tắc tập trung vào khả năng "có thể làm gì" (Can do) hơn là ý định "sẽ làm gì" (Will do). Thang đo chung của Schwarzer và Jerusalem (1995) cùng thang đo của Chen, Gully và Eden (2001) đo lường niềm tin năng lực khái quát. Đối với hoạt động dạy học, thang đo 30 mục của Bandura (1997) phù hợp với giáo viên phổ thông, trong khi thang đo của Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001) gồm 3 phân nhóm chức trách lên lớp là công cụ được sử dụng phổ biến và có độ tương thích cao với giảng viên đại học.

Nhóm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng: Các công trình quốc tế và trong nước tập trung vào các nguồn tác động:

  • Trải nghiệm bản thân: Bandura (2005), Morris và cộng sự (2011), Poulou (2007), Garvis và Pendergast (2012), Milner (2002), Palmer (2006a), Cheung (2008) đều xác định trải nghiệm thành công hay thất bại là yếu tố then chốt hình thành niềm tin năng lực.
  • Học hỏi kinh nghiệm: Weaver (2008), Mousavi (2014) chỉ ra việc quan sát đồng nghiệp mang lại kinh nghiệm tự đánh giá; Lent và cộng sự (1991) nhận định học hỏi kinh nghiệm phát huy tác dụng rõ rệt khi đối mặt với nhiệm vụ mới hoặc khó; Anderson và Betz (2001), Hoy (2005), Hoy và Burke-Spero (2005) xem đây là yếu tố hỗ trợ thứ cấp.
  • Đánh giá, phản hồi: Tschannen-Moran và cộng sự (1998), Hampton (1998), Hattie và Timperley (2007), Morris (2010) phân tích vai trò của thông tin nhận xét từ bên ngoài. Đặc biệt, nghiên cứu của Phan Thị Tuyết Nga và Terry Locke (2015) tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội chỉ ra rằng tại Việt Nam, do ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng làng xã, sự đánh giá và phản hồi của những người xung quanh lại là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến giảng viên.
  • Trạng thái cơ thể và cảm xúc: Lent và cộng sự (1991), Sutton (2004), Singh và Rajalingam (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của cảm xúc tiêu cực và khả năng tự điều tiết cảm xúc.
  • Sự hài lòng, lạc quan, giới tính và văn hóa: Judge và cộng sự (2001), Klassen (2009), Morris (2011), Britner và Pajares (2006), Marwa Alrajhi (2017). Về thang đo yếu tố ảnh hưởng, thang đo 15 chỉ báo cho mỗi yếu tố của Usher (2006) khắc phục được sự hạn chế về số mục của Heppner (1994) và việc gộp biến của Poulou (2007).

Nhóm nghiên cứu về biện pháp nâng cao: Các tác giả Schunk và Pajares (2010), Madhuleena (2020), Bùi Thị Hồng Thái và Nguyễn Thị Mùi (2016), Kayla (2019), Robert Mager (1992), Sezgin và Erdogan (2015) đề xuất hệ thống giải pháp tập trung vào tích lũy trải nghiệm thành công, nêu gương, thiết lập mục tiêu, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh và điều hòa trạng thái tinh thần.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Mặc dù các nghiên cứu quốc tế và trong nước đã đề cập nhiều khía cạnh của tự đánh giá năng lực, hầu hết chỉ khảo sát trên học sinh, sinh viên, người lao động hoặc giáo viên phổ thông và giảng viên đại học dân sự. Hoàn toàn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong môi trường đặc thù của các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm làm rõ đặc điểm biểu hiện, kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý - xã hội và đề xuất biện pháp tác động phù hợp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo; các Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu và Nghị quyết của Đảng ủy các trường sĩ quan. Luận án vận dụng 4 phương pháp tiếp cận chuyên ngành: tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử, tiếp cận hoạt động và tiếp cận tâm lý học sư phạm quân sự.

Về khung khái niệm, luận án kế thừa và chuẩn hóa các thuật ngữ:

  • Tự đánh giá: Là sự nhận thức, tin tưởng của cá nhân về các giá trị bản thân trong hoạt động và giao tiếp ở môi trường xã hội.
  • Năng lực: Là sự thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trong những hoạt động nhất định.
  • Tự đánh giá năng lực (self-efficacy): Là nhận thức, tin tưởng của cá nhân về hiệu quả có thể đạt được khi thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động. Luận án phân biệt tự đánh giá năng lực với tự đánh giá tổng thể (self-esteem) và tự điều chỉnh (self-regulation): tự đánh giá năng lực gắn liền với nhiệm vụ chuyên biệt, phản ánh niềm tin vào khả năng đạt mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể.
  • Giảng viên các trường sĩ quan Quân đội: Là chủ thể hoạt động giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học theo mục đích, yêu cầu đào tạo của các học viện, trường đại học và cao đẳng chuyên nghiệp trong hệ thống quân đội.

Khung phân tích của luận án xác định 3 mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy theo mô hình của Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001):

  1. Tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy;
  2. Tự đánh giá năng lực thu hút học viên;
  3. Tự đánh giá năng lực quản lý lớp học.

Hệ thống 7 yếu tố ảnh hưởng được đưa vào mô hình khảo sát thực nghiệm gồm: Trải nghiệm trong hoạt động giảng dạy; Sự học hỏi kinh nghiệm; Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên; Trạng thái cơ thể, cảm xúc; Sự lạc quan; Cảm nhận hạnh phúc trong công việc; Sự hài lòng trong công việc.

Luận án sử dụng tổng hợp 8 phương pháp nghiên cứu tâm lý học:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
  2. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia;
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu;
  5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động;
  6. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý;
  7. Phương pháp quan sát trực tiếp (dự giờ giảng);
  8. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu bằng thống kê toán học thông qua phần mềm SPSS 20.0.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ mẫu giảng viên đang trực tiếp giảng dạy tại Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh và Trường Sĩ quan Thông tin, khảo sát thực tế trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TỰ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành 3 hướng nghiên cứu chính:

  • Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu liên quan đến mặt biểu hiện và thang đo tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết từ Bandura (1997), Schwarzer và cộng sự (1999) đến Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001), khẳng định mô hình 3 mặt biểu hiện của Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy là phù hợp nhất để đánh giá hoạt động lên lớp của giảng viên sĩ quan.
  • Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng. Tác giả tổng hợp 4 nguồn tác động cốt lõi theo Bandura và bổ sung các biến số tâm lý như sự lạc quan, sự hài lòng trong công việc, các yếu tố văn hóa tập thể tại Việt Nam từ nghiên cứu của Phan Thị Tuyết Nga và Terry Locke (2015). Thang đo của Usher (2006) được xác định là cơ sở phù hợp nhất để xây dựng công cụ khảo sát.
  • Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về biện pháp nâng cao tự đánh giá năng lực của Robert Mager (1992), Schunk và Pajares (2010), Mousavi (2014).

Từ việc tổng quan, chương 1 xác định 5 vấn đề luận án tập trung giải quyết nhằm khắc phục khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn đối với đối tượng giảng viên các trường sĩ quan quân đội.

Chương 2. LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và khung lý luận cho đề tài:

  • Phân tích bản chất của tự đánh giá, năng lực và tự đánh giá năng lực. Tác giả phân tích công thức của William James (Tự đánh giá = Thành công/kỳ vọng), quan điểm của Rosenberg (1979), Đỗ Ngọc Khanh (2005), Vũ Dũng (2012) và Bandura (1977).
  • Phân định ranh giới giữa tự đánh giá năng lực với tự đánh giá tổng thể (self-esteem) và tự điều chỉnh (self-regulation). Tự đánh giá năng lực là niềm tin mang tính chuyên biệt theo nhiệm vụ (Can do) chứ không phải đánh giá giá trị nhân cách tổng quát.
  • Phân tích các đặc điểm của tự đánh giá năng lực gồm tính đa chiều, tính tổng quát, sức mạnh và các mức độ (rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao).
  • Xác lập cấu trúc tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trường sĩ quan theo 3 mặt biểu hiện: thực hiện mục đích yêu cầu giảng dạy, thu hút học viên, quản lý lớp học (minh họa tại Sơ đồ 2.1 của luận án).
  • Luận giải cơ chế tác động của 7 yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực của giảng viên quân sự (thể hiện tại Sơ đồ 2.2 của luận án).

Chương 3. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm và thiết kế bộ công cụ:

  • Mô tả đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu tại 4 trường sĩ quan (Bảng 3.1 trong văn bản).
  • Xây dựng hệ thống bảng hỏi khảo sát gồm thang đo các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy và thang đo các yếu tố ảnh hưởng kế thừa từ Tschannen-Moran & Woolfolk Hoy và Usher.
  • Quy trình kiểm định độ tin cậy của các thang đo (Bảng 3.2), tiến hành điều tra thử, xin ý kiến chuyên gia tâm lý học nhằm bảo đảm độ giá trị nội dung và độ tin cậy Cronbach's Alpha.
  • Thiết lập tiêu chí và thang điểm phân loại các mức độ tự đánh giá năng lực của giảng viên (mục 3.3).

Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TỰ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm đã xử lý qua phần mềm SPSS 20.0:

  • Đánh giá thực trạng các mặt biểu hiện: Phân tích thực trạng tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy (Bảng 4.1); năng lực thu hút học viên (Bảng 4.2); năng lực quản lý lớp học (Bảng 4.3). Dữ liệu tổng hợp (Biểu đồ 4.1) chỉ ra: tự đánh giá năng lực quản lý lớp học đạt điểm trung bình cao nhất, trong khi tự đánh giá năng lực thu hút học viên đạt điểm trung bình thấp nhất.
  • Đánh giá sự khác biệt nhân khẩu học: Phân tích thực trạng tự đánh giá theo trình độ học vấn (Biểu đồ 4.2), theo thâm niên công tác (Biểu đồ 4.3) và sự khác biệt giữa các trường sĩ quan khảo sát (Biểu đồ 4.4).
  • Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá mối liên hệ định lượng giữa các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy với từng yếu tố: trải nghiệm hoạt động (Sơ đồ 4.1), học hỏi kinh nghiệm (Sơ đồ 4.2), sự đánh giá của chỉ huy, đồng nghiệp và phản hồi học viên (Sơ đồ 4.3), trạng thái cơ thể và cảm xúc (Sơ đồ 4.4), sự lạc quan (Sơ đồ 4.5), cảm nhận hạnh phúc (Sơ đồ 4.6), và sự hài lòng trong công việc (Sơ đồ 4.7).
  • Phân tích chân dung tâm lý điển hình (mục 4.3): Khắc họa các nhóm giảng viên có mức độ tự đánh giá năng lực cao, trung bình và thấp thông qua dữ liệu phỏng vấn sâu và nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm.
  • Đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội (mục 4.4): Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao tự đánh giá năng lực cho giảng viên trường sĩ quan.

Dưới đây là bảng tổng hợp các cấu phần nghiên cứu thực tiễn được luận án triển khai:

Cấu phần nghiên cứu Nội dung và biến số trong văn bản luận án Công cụ / Nguồn dữ liệu
Các mặt biểu hiện tự đánh giá - Thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy
- Thu hút học viên
- Quản lý lớp học
Bảng hỏi (kế thừa Tschannen-Moran & Woolfolk Hoy), Bảng 4.1, 4.2, 4.3
Các yếu tố ảnh hưởng - Đánh giá của chỉ huy, đồng nghiệp, học viên
- Trải nghiệm trong giảng dạy
- Học hỏi kinh nghiệm người xung quanh
- Trạng thái cơ thể, cảm xúc
- Sự lạc quan
- Cảm nhận hạnh phúc trong công việc
- Sự hài lòng trong công việc
Thang đo kế thừa Usher (2006); hệ thống sơ đồ tương quan từ Sơ đồ 4.1 đến 4.7
Biến phân loại so sánh - Trình độ học vấn
- Thâm niên giảng dạy
- Giới tính
- Đơn vị đào tạo (4 trường sĩ quan)
Xử lý thống kê mô tả, kiểm định khác biệt trên SPSS 20.0 (Biểu đồ 4.2 - 4.4)
Địa bàn khảo sát - Trường Sĩ quan Chính trị
- Trường Sĩ quan Lục quân 1
- Trường Sĩ quan Công binh
- Trường Sĩ quan Thông tin
Điều tra thực nghiệm giai đoạn 2018 - 2021

Kết quả và những đóng góp mới

Công trình tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành Tâm lý học sư phạm quân sự về hoạt động giảng dạy của giảng viên trong môi trường quân đội.
  • Bổ sung và phát triển quan niệm về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Xác định hệ thống đặc điểm của hoạt động giảng dạy, đưa ra các tiêu chí, chỉ báo biểu hiện và luận giải cơ sở khoa học của các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của người giảng viên quân sự.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Luận án chứng minh trên số liệu thực nghiệm: tự đánh giá năng lực quản lý lớp học có điểm trung bình cao nhất, trong khi tự đánh giá năng lực thu hút học viên có điểm trung bình thấp nhất.
  • Xác lập thứ bậc ảnh hưởng của các yếu tố tác động: Yếu tố "Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên" có ảnh hưởng mạnh nhất đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan; tiếp theo lần lượt là trải nghiệm trong hoạt động giảng dạy; sự học hỏi kinh nghiệm của những người xung quanh; trạng thái cơ thể, cảm xúc; sự lạc quan; và cảm nhận hạnh phúc trong công việc giảng dạy.
  • Phát hiện thực nghiệm ghi nhận: Yếu tố sự hài lòng trong công việc không có sự ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để cán bộ quản lý phân công nhiệm vụ giảng dạy hợp lý cho đội ngũ giảng viên dưới quyền và đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao năng lực sư phạm quân sự.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất các nhóm biện pháp tâm lý - xã hội bao gồm:

  1. Tổ chức tốt các hoạt động sư phạm nhằm tăng cường và tích lũy các trải nghiệm thành công cho giảng viên;
  2. Xây dựng môi trường sư phạm quân sự lành mạnh;
  3. Phát huy vai trò đánh giá, động viên khách quan của lãnh đạo - chỉ huy các cấp và sự tương trợ, chia sẻ kinh nghiệm từ các giảng viên khác trong đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trên lớp (gồm 3 mặt biểu hiện), chưa mở rộng sang các mảng hoạt động khác của người giảng viên quân sự như năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực quản lý bộ đội hay công tác đảng, công tác chính trị.
  • Về phạm vi khách thể và địa bàn: Nghiên cứu giới hạn trên đối tượng giảng viên tại 4 trường đào tạo sĩ quan (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Thông tin), chưa bao quát khối các học viện chuyên ngành kỹ thuật hoặc đào tạo sau đại học trong quân đội.
  • Về phạm vi thời gian: Cơ sở dữ liệu thực nghiệm được thu thập trong khung thời gian từ năm 2018 đến năm 2021.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các học viện và trường đại học khác trong toàn quân để so sánh đặc thù tự đánh giá năng lực giữa giảng viên khối trường sĩ quan chỉ huy và khối học viện chuyên ngành.
  • Nghiên cứu sâu hơn các yếu tố tâm lý tác động tiêu cực hoặc kiểm chứng thực nghiệm hiệu quả can thiệp của từng biện pháp tâm lý - xã hội được đề xuất.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các lĩnh vực:

  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo, chỉ huy các trường quân đội: Cung cấp căn cứ khoa học để nhìn nhận đúng mức độ tự tin, khả năng giảng dạy thực tế của đội ngũ giảng viên; từ đó cải tiến công tác phân công bài giảng, xây dựng tiêu chí đánh giá, thi đua khen thưởng và tạo động lực sư phạm phù hợp.
  • Đối với giảng viên các trường sĩ quan, học viện quân đội: Giúp người giảng viên tự nhận thức về các mặt mạnh, điểm hạn chế trong quá trình lên lớp (đặc biệt là kỹ năng thu hút người học), từ đó có định hướng tích lũy trải nghiệm và điều hòa cảm xúc cá nhân.
  • Đối với học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Là tài liệu tham khảo về quy trình xây dựng thang đo, kỹ thuật khảo sát kết hợp định tính - định lượng (phân tích chân dung tâm lý và xử lý dữ liệu SPSS) trong môi trường sư phạm đặc thù. Phần đáng lưu ý là hệ thống bảng hỏi thích ứng từ mô hình của Tschannen-Moran & Woolfolk Hoy và Usher.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên gồm những mặt biểu hiện nào?
Theo luận án, tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan gồm 3 mặt biểu hiện chính: Tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy; Tự đánh giá năng lực thu hút học viên; và Tự đánh giá năng lực quản lý lớp học.

2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy mặt biểu hiện nào đạt mức cao nhất và thấp nhất?
Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án chỉ ra rằng tự đánh giá năng lực quản lý lớp học có điểm trung bình cao nhất, trong khi tự đánh giá năng lực thu hút học viên có điểm trung bình thấp nhất trong 3 mặt biểu hiện.

3. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong nghiên cứu này?
Yếu tố "Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên" là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan, tiếp theo mới đến yếu tố trải nghiệm hoạt động giảng dạy.

4. Yếu tố nào trong số các biến số khảo sát không có sự ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy?
Kết quả nghiên cứu thực tiễn xác nhận yếu tố "sự hài lòng trong công việc" không có sự ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên các trường sĩ quan.

5. Khách thể nghiên cứu thực nghiệm được khảo sát tại những cơ sở nào và trong thời gian nào?
Khảo sát được thực hiện trên đội ngũ giảng viên đang làm nhiệm vụ giảng dạy tại 4 cơ sở: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh và Trường Sĩ quan Thông tin, với dữ liệu điều tra thu thập từ năm 2018 đến năm 2021.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Minh Nguyệt đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam dựa trên mô hình 3 mặt biểu hiện. Công trình xác định rõ vai trò chi phối của sự đánh giá từ cấp chỉ huy, đồng nghiệp và học viên, đồng thời chỉ ra điểm trung bình cao nhất ở năng lực quản lý lớp học và thấp nhất ở năng lực thu hút học viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nhằm hỗ trợ công tác quản lý đào tạo và nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy trong các nhà trường quân đội.