Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng du lịch Hà Nội. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng du lịch Hà Nội. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu: Quản lý tài chính đối với giáo dục Đại học, cao đẳng là một bộ phận của nền tài chính công, chịu sự điều tiết, chi phối bởi những cơ chế, quy định chung của quản lý nhà nước nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt xuất phát từ vai trò và vị trí quan trọng của các trường Đại học, Cao đẳng. Các vấn đề về chính sách giáo dục và đào tạo, trong đó có chính sách huy động và sử dụng các nguồn tài chính, cơ chế tự chủ quản lý tài chính ở các trường đại học, cao đẳng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả. Tác giả Đặng Văn Du với luận án: “ Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam”, đã phân tích sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học. Luận án đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục đại học ở Việt Nam, phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính qua các tiêu chí được xây dựng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục đại học ở nước ta Tác giả Nguyễn Anh Thái (2008) với đề tài luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học của Việt Nam.” đã đề cập đến những ảnh hưởng của cơ chế tài chính đối với kết quả hoạt động của các trường đại học của Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam, như: Thứ nhất: tạo dựng khung pháp lý về quản lý giáo dục đại học một cách đồng bộ; Thứ hai: Cải tiến việc phân bổ và cấp phát NSNN; Thứ ba: Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trường đại học công lập 4 z Thứ tư: Xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập; Thứ năm: Tăng cường phân cấp quản lý tài chính theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; Thứ sáu: Xây dựng chính sách công về tài chính giáo dục đại học công lập; Tác giả Nguyễn Thu Hương (2011) với nghiên cứu “Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường Đại học công lập.” đã chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong khi cơ chế thu học phí vẫn chưa đồng bộ, các trường đại học vẫn chưa được tự chủ mức thu học phí đối với các chương trình đào tạo phổ thông (vẫn phải thực hiện mức thu trần đối với học phí)…; Tác giả Trần Đức Cân (2012) trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” đã phân tích cơ chế tự chủ tài chính theo góc độ từ các trường đại học công lập, đồng thời nêu ra những thuận lợi, khó khăn và đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trước xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trường.
Qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giớ về tự chủ tài chính trường đại học, tác giả rút ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể: Một là, giao quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao và đi kèm với giao quyền tự chủ đại học. Hai là, Nhà nước vần đổi mới cách phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra và đảm bảo tính công khai, minh bạch, có các tiêu chí định lượng rõ ràng. Ngân sách cấp theo cơ chế khoán không phải lập theo các tiểu mục để các trường được toàn quyền chi cho tiền lương, chi đầu tư phát triển…và áo dụng chế độ hậu kiểm cho đối với các trường. Ba là, Nhà nước cần cáo những cơ chế chính sách khác đi kèm để hỗ trợ cho cơ chế tự chủ tài chính như tăng cường chính sách cho vay đối với người học; trợ cấp cho sinh viên nghèo, sinh viên thuộc đối tượng chính sách…; ban hành cơ chế 5 z góp vốn chung về đầu tư cơ sở vật chất, thư viện dùng chung giữa các trường nhằm giảm bớt chi phí đầu tư nhưng lại nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng… Bốn là, Nhà nước cần định hình rõ về mô hình tài chính cho giáo dục đại học theo hướng tăng cường chia sẻ học phí từ người phù hợp với chất lượng đào tạo được cung cấp.
Cho phép các trường được quyền tự xây dựng các mức học phí đối với những chương trình đào tạo theo nhu cầu của người học, nhu cầu của xã hội để tăng cường tính xã hội hóa, giảm gánh nặng về chi NSNN cho giáo dục đại học công lập Năm là, cần thành lập một cơ quan kiểm định độc lập nằm ngoài sự quản lý của Bộ GD& ĐT để kiểm tra, đánh giá chất lượng của các trường được giao quyền tự chủ tài chính. Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) với đề tài “Hoàn thiện c ơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam.” đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục, xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục. Phân tích rõ thực trạng xã hội hóa giáo dục và những tác động tích cực, hạn chế của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua. Đồng thời tổng kết một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới.
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính có tính khả thi nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện tốt hơn công bằng và hiệu quả trong phát triển giáo dục, cụ thể: Thứ nhất: bỏ quy định giới hạn trần về tổng thu nhập hàng năm trả cho người lao động trong các cơ sở giáo dục công lập thực hiện cơ chế tự chủ; Thứ hai: cụ thể hóa quy định trách nhiệm các cơ sở giáo dục công lập tự đảm bảo nguồn để thực hiện khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; 6 z Thứ ba: cụ thể hóa các khoản chi quản lý và hoạt động nghiệp vụ mà thủ trưởng cơ sở giáo dục công lập do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí được quyết định mức chi để không gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục; Thứ tư: xây dựng và thực hiện thí điểm cơ chế cổ phần hóa, chuyển các cơ sở giáo dục công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và trước hết nên áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề có các ngành nghề đào tạo đang có nhiều lợi thế thu hút người học. Tác giả Vũ Thị Thanh Thủy (2012) với đề tài luận án tiến sỹ “Quản lý tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam.” đã hệ thống hóa về cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập, các nhân tố quản lý tài chính, đồng thời cũng chỉ ra tác động của quản lý tài chính đến chất lượng đầu ra của học sinh, sinh viên, các thang đo quản lý tài chính và điều kiện để các trường tự chủ tài chính. Ở các góc độ khác nhau, các công trình khoa học nói trên đều có đề cập đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
Với những đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức và hoạt động, nên việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường là hết sức cần thiết. Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đối với các trƣờng đại học, cao đẳng cộng lập. Khái quát về trường dại học, cao đẳng: 1.1Quan niệm về đào tạo đại học Có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo đại học. Quan điểm về đào tạo đại học không phải là bất biến mà nó cũng cũng luôn thay đổi để phù hợp với từng hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
Năm 1968, Tổ chức Văn hoá - Giáo dục - Xã hội của Liên Hợp quốc (UNESCO) đưa ra quan niệm về đào tạo đại học như là "Giáo dục bậc ba" trong hệ 7 z thống giáo dục quốc dân của mỗi nước. Quan niệm đó của UNESCO đã được nhiều nước thừa nhận và đã chi phối mạnh mẽ đến hoạt động đào tạo đại học; đặc biệt là việc hình thành và xây dựng phương pháp giảng dạy trong các trường đại học. Theo đó, trong giai đoạn này, phương pháp giáo dục đại học cũng chỉ là bước tiếp theo của giáo dục phổ thông, dạy học theo kiểu độc thoại, "thầy đọc, trò chép" từ đó đã trở nên phổ biến. Vào những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức; quan niệm về đào tạo đại học có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn - khi mà mọi cá nhân đều phải nỗ lực học tập, phấn đấu để đáp ứng đòi hỏi cao của nền kinh tế.