Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG TRONG CÔNG TÁC TUYỂN SINH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Khái quát về hoạt động truyền thông 1. Các khái niệm truyền thông Trong tiếng Anh, "Communication" có nghĩa là truyền thông - sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc. Theo Black, Bryant (1992), truyền thông là: Quá trình mà nhiều người chia sẻ nghĩa.
Quá trình đó một cá nhân (người cung cấp thông tin) truyền tải sự kích thích (thường qua biểu tượng ngôn ngữ) để thay đổi hành vi của cá nhân khác. Hoạt động này xuất hiện ở bất cứ nơi nào mà thông tin chuyển từ nơi này đến nơi khác. Nó là một quá trình. Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền Thông Đại Chúng, NXB Chính trị quốc gia, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hoặc giữa các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.
Nguyễn Văn Dững, “truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” [2,tr. Nhiều khái niệm trên cho thấy tính phức tạp, đa dạng của truyền thông. Tuy vậy, chung lại, cần lưu ý truyền thông ở những khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình – có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian lớn. Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi chuyển tải nội dung cần thiết mà nó còn tiếp diễn sau đó.
Đấy là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, ít nhất phải 13 luan an có hai thực thể, không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai đều cho và nhận. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kì quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông. Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Đặc điểm của truyền thông Tính liên tục Truyền thông là một quá trình liên tục, do vậy, không thể cá thể không thể ngăn cản được việc mình nghĩ về lời nói, hành động, các biểu hiện của các đối tượng khác xung quanh.
Truyền thông nội tại diễn ra trong chính con người (người truyền thông) và bên ngoài (đối tượng truyền thông). Tính cá nhân Con người luôn tồn tại trong bối cảnh hai mặt, đó là thế giới bên ngoài và thế giới bên trong. Thế giới bên trong tồn tại trong bộ não, bao gồm: Thái độ, giá trị, kinh nghiệm, trình độ… Thế giới bên trong này quyết định cách mà mỗi con người nhìn nhận, giải thích một sự vật, con người và sự kiện của thế giới bên ngoài. Nói một cách khác, truyền thông mang yếu tố chủ quan của mỗi cá nhân.
Tính chu kỳ Truyền thông là hàng loạt các hành động, phản ứng mà dường như nó không có điểm đầu và điểm cuối cố định. Người nhận trở thành người gửi và người gửi trở thành người nhận thông qua sự phản hồi. Vì thế, truyền thông mang tính liên tục. Tính không thể đảo ngược Thông tin một khi được truyền đi không thể chuyển ngược lại từ não của người nghe đến miệng của người nói.
Các yếu tố và quá trình truyền thông * Các yếu tố của quá trình truyền thông - Nguồn phát (Source) hoặc người gửi cung cấp (sender) là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Nói cách khác nguồn phát chính là nơi thông tin bắt đầu được truyền đi, có thể là nơi tạo ra thông tin, là người hay nhóm người muốn truyền đạt thông tin. - Thông điệp (Message) là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Những nội dung thông tin này có thể là tình cảm, suy nghĩ, số liệu, sự kiện, hình ảnh, âm thanh…Nội dung thông điệp phải đảm bảo yêu cầu về tính chính xác, kịp thời và đúng đối tượng.
Thông điệp gồm 2 loại: Thông điệp muốn truyền đạt và và thông điệp nhận được. Thông điệp muốn truyền đạt được hiểu là những ý tưởng, cảm xúc mà người phát muốn cho người nhận biết và hiểu chính xác. Khả năng truyền đạt của từng người là khác nhau và tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, khả năng, trình độ… Thông điệp nhận được là điều mà người nhận bằng các giác quan có thể nghe, ngửi, sờ… và giải mã. Thông điệp nhận được và thông điệp muốn truyền đạt có sự khác nhau do sự khác biệt về nhân cách, khả năng, kinh nghiệm, trình độ của người phát và người nhận.
Thông điệp được truyền đi phải có thông tin. Thông điệp và thông tin trong truyền thông luôn đi kèm với nhau. Có thể hiểu, thông điệp là bản chất, còn thông tin là vỏ bao bọc bản chất đó. Thông tin càng cụ thể, chi tiết, thông điệp càng dễ hiểu.
Thông tin là kiến thức, kiến thức là quyền lực, trao đổi kiến thức là quá trình tạo quyền (nâng cao vị thế). - Kênh truyền thông (Channel) là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. - Nhiễu (Noise) là yếu tố là hiện tượng đặc biệt trong quá trình truyền thông (tồn tại dưới dạng vật lý, cơ học, luân lý, tôn giáo, môi trường, cung độ, lứa tuổi, giới tính, ngôn ngữ, học vấn, dân tộc…) gây ra sự sai lệch không được dự tính trước. 15 luan an - Đối tượng tiếp nhận (Receiver) là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
- Phản hồi (Feedback) là sự tác động ngược trở lại của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin. Phản hồi là phần tử cần thiết để điều khiển quá trình truyền thông, làm cho quá trình truyền thông được liên tục từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận và ngược lại. Nếu không có phản hồi thì thông tin chỉ mang tính một chiều và đôi khi mang tính áp đặt. Đây là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền thông.
* Quá trình truyền thông: Phản hồi Nguồn Mã hoá Thông điệp Giải mã Nơi nhận Quá trình A Quá trình B Quá trình A – nguồn (source): Có thể là một người, tổ chức, cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng, trong đó chứa đựng những thông tin mã hoá (encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó diễn đạt nội dung thông điệp. Thông điệp (message) là những thông tin được chuyển theo một mạch (kênh) này hay kênh khác đến đối tượng. Quá trình B – giải mã (decode): Là cách để làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến. Mỗi một thông điệp được chuyển đến có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Nơi nhận (destination), người nhận (receiver) là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích luỹ của người nhận. Phản hồi (Feedback) là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ gốc tới nơi tiếp nhận và ngược lại. 16 luan an Như vậy, đây là một chu trình khép kín của quá trình truyền thông. Quá trình truyền thông giữa cong người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội.
Liên kết xã hội là yếu tố quan trọng để thu hút các cá nhân và các nhóm xã hội vào dòng thông tin. Để truyền thông đạt hiệu quả, kinh nghiệm của người truyền tin và tiếp nhận giữ vai trò quan trọng. Mỗi thông tin phải chuyển tải được thông điệp nhất định. Thông điệp được người nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi.
Truyền thông tuyển sinh 1. Tuyển sinh Tuyển sinh là khái niệm quen thuộc sử dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm chỉ hoạt động lựa chọn, thu hút người có đủ yêu cầu tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Tuyển sinh là việc tổ chức lựa chọn người học vào một ngành, nghề nào đó của cơ sở đào tạo dựa trên các quy định đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công nhận (http://www.com/) Như vậy tuyển sinh là hoạt động quan trọng của mỗi cơ sở đào tạo, là nhiệm vụ chính liên quan và chi phối tất cả các hoạt động khác, đồng thời cũng là mục tiêu phát triển của mỗi cơ sở đào tạo. Công tác tuyển sinh là khâu đầu tiên quyết định thành công của quá trình giáo dục, là cơ sở để thực hiện các hoạt động khác tiếp theo như giảng dạy, kiểm tra đánh giá chất lượng.
Truyền thông tuyển sinh Truyền thông tuyển sinh là quá trình truyền thông tin từ chủ thể là cơ sở giáo dục, đào tạo đến đối tượng tiếp nhận là người có nhu cầu học tập nhằm lựa chọn được đủ số lượng và đảm bảo chất lượng trên cơ sở thẩm quyền được quy định. Đặc thù của lĩnh vực giáo dục đại học và truyền thông tuyển sinh trong các trường đại học 1. Đặc thù lĩnh vực giáo dục đại học 1. Khái quát về giáo dục đại học Theo Luật Giáo dục ĐH năm 2012, “ĐH là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học” [10.
Tính đến cuối năm 2019, hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam hiện tại có 237 trường ĐH, học viện (bao gồm 172 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ TS, 31 trường CĐ sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm.297 công lập và 119 ngoài công lập); Các ĐH, học viện, trường ĐH có 74.232 công lập và 15.759 ngoài công lập). Có 02 cơ sở giáo dục ĐH được xếp trong danh sách 1000 trường ĐH tốt nhất của thế giới; một số trường ĐH được xếp trong danh sách các trường ĐH tốt nhất Châu Á. Đến nay, đã có gần 550 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo đang hoạt động giữa 85 cơ sở giáo dục Việt Nam với 258 cơ sở giáo dục ĐH nước ngoài thuộc 33 quốc gia và vùng lãnh thổ.