Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỀN VẤN ĐÈ TRUYÈN THÔNG AN SINH XÃ HOI CHO DONG BAO DAN TỘC THIẾU SO 1. Các khái niệm cơ bản 1. An sinh xã hội Thuật ngữ “an sinh xã hội” (ASXH) ở mỗi nước được thể hiện bằng những từ khác nhau, mặc dù nội dung đều được hiểu như nhau nhưng do được dịch từ nhiều ngôn ngữ khác nhau (Ví dụ Tiếng Anh: Social security; Tiếng Pháp: Sécurité sociale) khi dich ra tiếng Việt thuật ngữ này có thé được hiểu với nhiều ý nghĩa khác nhau như: Bảo đảm xã hội, An toàn xã hội, Bảo trợ xã hội hoặc An sinh xã hội. Theo các tài liệu hiện có, khái niệm ASXH đã được dùng chính thức lần đầu tiên trong tiêu đề một đạo luật của Mỹ năm 1935 - Luật về an sinh xã hội.
Tuy nhiên, luật này chỉ mới đề cập các rủi ro về già yếu, chết, tàn tật, thất nghiệp và đối tượng được bảo vệ không chỉ là người lao động mà cả những người nghèo, những người gia cả, cô đơn, người tàn tật. Đến năm 1938, khái niệm ASXH xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand, nhưng có thêm một khoản trợ cấp mới (trợ cấp gia đình). Đến năm 1941, ASXH lại xuất hiện trong Hiến chương Đại Tây Dương. Sau đó, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã chính thức sử dụng cụm từ này cho đến nay trong các công ước của mình.
Đặc biệt, ngày 28/6/1952, Hội nghị Quốc tế về lao động đã thông qua Công ước số 125 - Công ước quy định các quy phạm tối thiêu về ASXH. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đã thừa nhận ASXH là một trong những nguyện vọng sâu sắc, phổ biến nhất của mọi dân tộc trên thế giới và được ghi nhận trong tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp quốc về quyền con người. ASXH theo quan điểm của một số tô chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau, cụ thé như sau: - Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “.Moi người dân và hộ gia đình déu có quyền CÓ mot mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gốm ăn, mặc, chăm sóc y tê, dich vụ xã hội thiết yêu và có quyên được an sinh khi có các biên cô II về việc lam, 6m đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già. hoặc các trường hợp bat khả kháng khác.
- Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1952, ASXH được định nghĩa là “sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do ngừng hoặc giảm thu nhập, do 6m dau, thai sản, tai nan lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Ở nước ta, mặc dù từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 cũng như trong các văn kiện của Đảng thời kỳ này chưa đề cập đến cụm từ “an sinh xã hội”, nhưng các chính sách xã hội cơ bản đã được thé hiện rõ trong từng nội dung của Hiến pháp và nhiều văn kiện của Đảng. Đến Đại hội IX (tháng 4/2001), Đảng ta chính thức đề cập tới cụm từ “an sinh xã hội” khi xác định: “Khan trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội”. Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI “Một số vấn đề về chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, cũng yêu cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tâm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời ky.”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm mức sống tối thiêu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn [35].
Điều 13 Hiến pháp năm 2013 cũng khăng định: “Công dân có quyên được bao đảm an sinh xã hội ”. Như vậy, có thể hiểu an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng, hoặc giảm thu nhập gây ra bởi 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuôi già và chết; đồng thời bảo đảm các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình. An sinh xã hội là một cau phan của chính sách xã hội. Đối tượng của an sinh xã hội bao gồm mọi người dân, trong đó ưu tiên nhóm yêu thế như người dân thuộc hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghéo, người dân tộc thiểu số, nguoi cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, lao động nông thôn, lao động khu 12 vực phi chính thức thiếu việc làm, người di cư, người thất nghiệp, người bị ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro bất khả kháng khác.
Trên cơ sở lý thuyết và sau khi tổng hợp, phân tích các khái niệm khác nhau về an sinh xã hội, tác giả đưa ra một khái nệm về ASXH như sau: “ASXH là hệ thống các chính sách và chương trình do nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm đảm bảo cho mọi người dân ít nhất có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin,.thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của người dân và sự trợ giúp của nhà nước ”. + Quá trình xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam. Trong nhiều thập ky qua, Dang va Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tô chức thực hiện các chính sách xã hội. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững, ồn định chính trị - xã hội, thé hiện bản chat tốt đẹp của chế độ ta.
Năm 1941, ngay sau khi Mặt trận Việt Minh ra đời, Bác Hồ đã soạn thảo “Chương trình Việt Minh” với những nội dung rất cụ thể về xã hội như thi hành ngày làm tám giờ, lập ấu trĩ viên (nhà trẻ) dé chăm nom trẻ em; phát triển các hoạt động văn hoá, nghệ thuật dé nâng cao trình độ tri thức cua nhân dân; chăm sóc người dân về y tẾ. Năm 1946, trả lời các nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh khắng định mục đích cuộc sống mà Người theo đuôi: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ta ai cùng có com ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiễn bộ và công băng xã hội như là một trong những giải pháp quan trong dé giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tại Đại hội đại biéu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng ta đã khẳng định chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, một bộ phận cấu thành chiến lược kinh tế - 13 xã hội, là động lực to lớn phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nội hàm của chính sách xã hội được xác định là “bao trùm mọi mặt cuộc sống con nBười, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc”. Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/06/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về một số van đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 đánh dau một bước ngoặt về quan điểm chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội hướng đến mọi người dân. Hiến pháp năm 2013 đã khang định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội ” (Điều 34), và “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”, “Nhà nước tạo bình đăng về cơ hội dé công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59). Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội tương đối đồng bộ với 4 trụ cột; hệ thống chính sách an sinh xã hội đã bao quát tất cả các lĩnh vực liên quan, đặc biệt là hệ thống luật pháp về an sinh xã hội được bồ sung, sửa đôi thường xuyên phù hợp với yêu cầu của cuộc sông.
+ Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta hiện nay Hệ thống chính sách an sinh xã hội bao gồm các Bộ Luật và các luật, các văn bản dưới luật trở thành hệ thống gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau trong việc bảo đảm mục tiêu xây dựng tiến bộ, công bằng xã hội, quản lý rủi ro cũng như hướng tới an toàn xã hội, đồng thời nhắn mạnh vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, bao gồm 4 nhóm chính sách cơ bản (trụ cột) sau: - Chính sách việc làm bảo đảm thu nhập toi thiểu và giảm nghèo: Nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, bảo đảm thu nhập và giảm nghèo bền vững. - Chính sách bảo hiểm xã hội: Nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị ốm dau, tai nan lao động, tuổi già. thông qua tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro nêu trên. 14 - Chính sách trợ giúp xã hội: Bao gồm chính sách trợ giúp thường xuyên và trợ giúp đột xuất, nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước, hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mat mùa, đói, nghèo kinh niên, thảm hoa).
- Chính sách dịch vụ xã hội cơ bản: Nhằm tăng cường cho người dân khả năng tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục cơ bản. y tẾ CƠ bản, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông.