Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Một số vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam.
Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng của chất độc da cam đến sức khỏe con người Trong cuốn “Chất độc da cam dioxin và hệ quả” [79] và “Thảm họa da cam ở Việt Nam” [38] thì CĐDC là một loại thuốc khai hoang diệt cỏ nhằm mục đích làm trụi lá cây, là hỗn hợp chất lỏng màu nâu đỏ, đựng trong các thùng phuy sọc da cam.
Chất độc này bao gồm 4 hóa chất là: 2,4,5-T (2.5-Trichlorophennoxyacetic); 2,4-d (2,4-dichlorophennoxyacetic); cacodylic acid và phicloram.5-T có chứa độc chất dioxin – một hóa chất siêu độc hại, hóa chất bẩn nhất mà con ngƣời từng sản sinh ra. Độc tính này gây tác hại về môi trƣờng và gây rối loạn nhiều hệ gen, hệ enzyme, từ đó dẫn đến rối loạn phát triển các tế bào và tổ chức của cơ thể ngƣời [38, tr. Tác giả Nguyễn Nhƣ Phát, Nguyễn Thị Việt Hƣơng trong cuốn “Trách nhiệm và hậu quả chất da cam/dioxin ở Việt Nam” đã chỉ ra trong vòng 10 năm (1961 - 1971), quân đội Hoa Kỳ đã rải xuống miền Nam hàng triệu lít các CĐHH với hàm lƣợng dioxin rất lớn, trong đó chất da cam đƣợc sử dụng nhiều nhất. Chất này gây quái thai, đột biến gen, gây độc hại với các tế bào, đặc biệt là tế bào não, thận, gan, tim; gây ngộ độc phổi, ung thƣ, gây rối loạn quá trình trao đổi chất trong tế bào và tác động gián tiếp trên bộ máy di truyền tế bào [54, tr.
Trƣơng Quang Đạt trong luận án Tiến sĩ Y học, trƣờng Đại học Y Hà Nội về “Nghiên cứu thực trạng một số bất thường sinh sản ở huyện Phù Cát – Bình Định và thử nghiệm ghi nhận bất thường sinh sản ở cộng đồng” đã tiến hành điều tra xã hội và đƣa ra các thông tin liên quan đến sự phơi nhiễm, các bệnh tật của trẻ em sơ sinh khi có bố, mẹ sinh sống trên vùng bị nhiễm độc. Các thông tin đƣợc phân tích dựa trên các chỉ số y khoa về các bệnh bẩm sinh nhƣ hẻ môi, thần kinh, dị tật mắt, mũi, mặt. Luận án Tiến sĩ Kiến trúc của Lê Thị Bích Thuận về “Các giải pháp không gian kiến trúc đảm bảo tiện nghi cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng” đã chỉ ra các dạng tật, các mức độ khuyết tật và nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, trong đó có 9 nguyên nhân là do hậu quả của chất da cam. NNCĐDC có trình độ dân trí thấp, sống phụ thuộc vào gia đình và chính sách trợ cấp của Nhà nƣớc.
Nguyện vọng của họ muốn đƣợc phục hồi chức năng, đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc học hành, đƣợc làm việc, đƣợc tiếp cận xã hội, đƣợc đối xử bình thƣờng nhƣ những ngƣời khác trong cộng đồng [69, tr. Luận án Tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Báo đã phân tích nguyên nhân dẫn đến khuyết tật trong đó có nguyên nhân do biến chứng của CĐHH và di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà hậu quả là ngƣời dân bị mắc căn bệnh ung thƣ, tai biến sinh sản, sinh con dị tật, quái thai, chết yểu hoặc bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Luận án chỉ ra NNCĐDC là do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất da cam dẫn đến thế hệ cháu, chắt của họ bị di chứng và khuyết tật; hoặc do ngƣời dân sinh sống trong môi trƣờng bị nhiễm độc bởi chất da cam [3, tr. Luận án còn luận giải những đối tƣợng này cần có chính sách, pháp luật điều chỉnh phù hợp nhằm tạo điều kiện đặc biệt để họ đƣợc tiếp cận và thụ hƣởng quyền con ngƣời và đòi những tội đồ chiến tranh phải bồi thƣờng [3, tr.
Tác giả Văn Thị Huệ trong“Hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm chất độc hóa học dioxin, nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội” [41]; Nguyễn Thị Điệp với “Việc thực hiện chính sách ưu đãi cho đối tượng nhiễm chất độc hóa học tại huyện Yên Lập, tỉnh Vĩnh Phúc” [26] và Nguyễn Thị Huyền Trang với “Công tác xã hội đối với nhóm trẻ em bị nhiễm chất độc da cam tại Làng Hữu nghị Việt Nam”[76], các tác giả đã chỉ ra ảnh hƣởng của CĐDC lên sức khỏe con ngƣời, chất độc này phát sinh bệnh tật gây dị dạng, dị tật. Trong đề tài KHCN cấp Nhà nƣớc của Nguyễn Thế Lực về “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chính sách đối với NNCĐDC, đề xuất phương hướng và giải pháp chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện” tác giả cho rằng CĐDC là độc tố chứa dioxin và chiếm tỉ lệ cao (trên 61%) nên rất độc hại. Chất này ít tan trong nƣớc, dễ hòa tan trong mỡ nên khi đƣợc đƣa vào môi trƣờng nó nằm sâu trong đất bởi vậy CĐDC ngấm vào cơ thể ngƣời qua thực phẩm, sữa bằng ba con đƣờng nhƣ ăn uống; qua da và niêm mạc (tiếp xúc trực tiếp) và qua đƣờng hô hấp. Do đó CĐDC gây độc hại trên hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, máu và cơ quan tạo máu, hệ cơ xƣơng, thận, nội tiết, da, hệ miễn dịch, hệ thần kinh, hệ thống sinh sản nên dễ gây ung thƣ và có sự di truyền [52, tr.
10 Trong bài viết “Tác động của Dioxin đối với gia đình Việt Nam – Nạn nhân của chiến tranh sau chiến tranh Việt Nam” [29] và “Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường do phơi nhiễm với Dioxin trong thực phẩm tại điểm nóng dioxin ở Đà Nẵng” [31] thì chất da cam không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngƣời tạo ra, không hòa tan trong nƣớc tinh khiết nhƣng hòa tan trong chất béo, nó tồn lƣu và tích tụ sinh học trong dây chuyền thực phẩm. Chất này đi vào cơ thể ngƣời qua đƣờng tiêu hóa, hô hấp, qua da gây tác hại cho môi trƣờng và ảnh hƣởng lâu dài đến sức khỏe con ngƣời. Chất da cam làm gia tăng các loại bệnh tật nhƣ đột biến gây dị dạng bẩm sinh ở trẻ, giảm khả năng sinh con, các vấn đề về phổi, da [26, tr. Hoàng Bá Thịnh trong “Nạn nhân chất da cam/dioxin ở Việt Nam và nỗi lo về thế hệ tương lai”[64, tr.
90 - 98]; Lê Thị Nhâm Tuyết trong“Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - Những điều mong muốn” [80, tr. 4-6]; Phạm Hƣơng Thảo và nhóm tác giả trong “Hậu quả xã hội của chất độc da cam ở Việt Nam. Dưới đám mây u ám của sự không hiểu biết” [63, tr. 103-109] chỉ ra di chứng da cam ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, thậm chí đến thế hệ thứ ba, thứ tƣ.
Các tác giả cho rằng tùy theo năng lực, điều kiện chúng ta có thể giúp đỡ NNCĐDC theo những cách khác nhau. Một số các công trình nƣớc ngoài nghiên cứu về chất da cam và hậu quả của chất da cam. Điển hình cuốn sách “Veterant and Agent Orange” (tạm dịch Cựu chiến binh và chất độc da cam) đã cung cấp bức tranh tổng thể về hỗn hợp chất da cam 2,4 axit dicholorophenoyacetic (viết tắt là 2,4-D), 2,4,5- axit trichlorophenoxyacetic (viết tắt là 2,4,5-T), piclogram và axit cacodylic tạo nên hỗn hợp chất diệt cỏ và là nguyên nhân chính gây ra một số bệnh ung thƣ tuyến tụy, suy giảm thính lực, u ác tính, bệnh tuyến giáp, bệnh hen suyễn, nhồi máu cơ tim, viêm mũi, Parkinson, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa porphyrin, ung thƣ thanh quản, tuyến tiền liệt, ung thƣ phổi…Những căn bệnh này tập trung vào các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tại Việt Nam và họ bị phơi nhiễm bởi chất diệt cỏ [131, pp. Young trong “Agent orange exposure and attributed Health effects in Vietnam veterans” [114] (tạm dịch là Phơi nhiễm CĐDC và các ảnh hƣởng đến sức khỏe của cựu chiến binh Việt Nam) trên tạp chí Military Medicine số 176.
Bài viết đánh giá, phân tích tác hại của chất da cam lên sức khỏe 11 con ngƣời. Theo đó những ngƣời tiếp xúc với chất da cam hoặc đi về từ cuộc chiến tranh Việt Nam hầu hết đều mắc các bệnh ung thƣ tuyến tiền liệt, tiểu đƣờng, bệnh Parkinson’s … Luật pháp của quốc gia này quy định khi những cựu chiến binh thực hiện chƣơng trình kiểm tra sức khỏe và xác định là bị khuyết tật hoặc bệnh liên quan đến phơi nhiễm do chất da cam thì đƣợc bồi thƣờng, đƣợc chăm sóc sức khỏe.Crouse trong cuốn sách “The Use and effects of agent orange in Vietnam (tạm dịch là: Việc sử dụng và ảnh hƣởng của chất da cam ở Việt Nam) phân tích hậu quả của chất da cam và các ảnh hƣởng của chất da cam lên sức khỏe con ngƣời và là nguyên nhân phát sinh các bệnh về thần kinh, Hodgkin’s, Non - Hodgkin’s, parkinson’s…Paolo Mocarelli và đồng nghiệp trong“Phơi nhiễm dioxin ở người cha và giới tính của thai nhi” khẳng định những ngƣời đàn ông bị phơi nhiễm CĐDC có xác suất sinh con trai thấp hơn những ngƣời đàn ông không bị phơi nhiễm [132, tr. 1858-1863] và đây là nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới việc duy trì nòi giống cho các gia đình. Jason Grotto và Tim Jones trong “Agent range’s lethal legacy: For U., a record of neglect” tạm dịch (Di sản gây chết ngƣời của chất độc da cam: Đối với Hoa Kì, một hồ sơ bỏ bê) khẳng định CĐDC có nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thƣ, dị tật bẩm sinh [139].
Bài viết “Agent Orange Zone” của Martha Ann Overland đăng trên Tạp chí Time số tháng 9, 10 năm 2009 cho rằng CĐDC khiến cho những đứa trẻ bị dị tật qua nhiều thế hệ [141].Schlall, BSN, Fache thì các cựu chiến binh sau chiến tranh ở Việt Nam trở về mắc các bệnh ung thƣ đƣờng hô hấp (ung thƣ phổi, thanh quản, khí quản, phế quản) và bệnh đa u tủy (multiple myeloma) [62, tr.Kido thì gây ra rối loạn nội tiết [61, tr. Theo kết quả khảo, có thể thấy CĐDC đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều phƣơng diện nhƣ xã hội, sinh học, y tế…và khi nhìn nhận dƣới góc độ pháp lý thì chƣa có một định nghĩa thống nhất, tổng thể, toàn diện, sâu sắc về CĐDC và những ảnh hƣởng của CĐDC đến sức khỏe con ngƣời.