Đại Học Thiên Pháp Luật Về Trợ Giúp Xã Hội Đối Với Người Nhiễm Chất Độc Da Cam Ở Việt Nam

Tìm hiểu pháp luật về trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam. Nghiên cứu quyền lợi, chính sách hỗ trợ và các quy định liên quan.

Trường đại học

Đại Học Thiên Pháp Luật

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2024

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng của chất độc da cam đến sức khỏe con người

1.3. Tình hình nghiên cứu lí luận pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

1.4. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thi hành

1.5. Tình hình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

1.6. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.7. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.8. Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

1.9. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.9.1. Câu hỏi nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu

1.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM

2.1. Khái quát chung về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.2. Khái niệm chất độc da cam và người nhiễm chất độc da cam

2.3. Khái niệm trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.4. Phân loại trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.5. Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.5.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.5.2. Nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam

3.2. Thực trạng quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội thường xuyên đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.3. Thực trạng quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội khẩn cấp đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.4. Thực trạng quy định của pháp luật về chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.5. Thực trạng quy định của pháp luật về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.6. Thực trạng quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.7. Thực trạng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.8. Thực trạng quy định của pháp luật về tranh chấp, giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thi hành

3.9. Đánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

3.10. Những kết quả đạt được

3.11. Một số hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại

3.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

4.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.1.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.1.2. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.2.1. Về trợ giúp xã hội thường xuyên đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.2. Về trợ giúp xã hội khẩn cấp đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.3. Về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.4. Về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.5. Về tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.6. Về xử lý vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.2.7. Về tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.3.1. Đổi mới tổ chức quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3.2. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về mục đích, ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3.3. Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tại các trung tâm trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3.5. Đẩy mạnh công tác tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.3.6. Hoàn thiện khung giám sát, đánh giá, theo dõi kết quả trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Trợ Giúp Xã Hội Nạn Nhân Da Cam Việt Nam

Trong cuộc chiến tranh, Mỹ đã sử dụng lượng lớn chất độc da cam/dioxin, gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu khẳng định chất da cam là chất gây ô nhiễm môi trường nguy hiểm. Ở Việt Nam, hậu quả vẫn còn nặng nề, gây tổn thương đa dạng trên cơ thể, di truyền qua nhiều thế hệ. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có hàng trăm nghìn nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, nhiều người trong số họ và gia đình gặp khó khăn về vật chất và tinh thần. Việc sẻ chia, giúp đỡ được khẳng định trong Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR). NNCĐDC là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, bởi vậy cần được tăng cường và bảo vệ nhiều hơn. Công ước về quyền của NKT năm 2007 ra đời một lần nữa thừa nhận NKT và gia đình họ được có mức sống thỏa đáng.

1.1. Hậu Quả Nghiêm Trọng Của Chất Độc Da Cam Dioxin

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất độc da cam/dioxin gây ra những tổn thương đa dạng và phức tạp trên tất cả các bộ máy sinh lý của cơ thể con người. Nạn nhân có thể bị liệt hoàn toàn hoặc một phần cơ thể, mù, câm, điếc, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, ung thư, dị dạng, dị tật bẩm sinh. Đặc biệt, chất độc da cam có thể di truyền qua nhiều thế hệ, và ở Việt Nam, di chứng da cam đã truyền sang thế hệ thứ tư. Con số nạn nhân thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3, thứ 4 rất lớn, cho thấy mức độ ảnh hưởng sâu rộng của chất độc này.

1.2. Quyền An Sinh Xã Hội Của Nạn Nhân Chất Độc Da Cam

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) khẳng định rằng mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu để bảo đảm nhân phẩm và tự do phát triển về nhân cách. Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, do đó cần được tăng cường và bảo vệ nhiều hơn. Công ước về quyền của người khuyết tật (NKT) năm 2007 cũng thừa nhận rằng người khuyết tật và gia đình họ được có mức sống thỏa đáng, trong đó có điều kiện về ăn, mặc, ở và điều kiện sống liên tục được cải thiện.

II. Thách Thức Pháp Luật Về Trợ Giúp Nạn Nhân Da Cam Hiện Nay

Trong những năm qua, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với nạn nhân chất độc da cam vẫn chưa được quy định trong các văn kiện có giá trị pháp lý cao như Bộ luật, Luật hay Pháp lệnh. Thực tế, pháp luật về vấn đề này được triển khai thông qua các Nghị định, Thông tư, nhưng chưa xác định là một đối tượng riêng biệt. Các quy định hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, thiếu tính khả thi, cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NNCĐDC có ý nghĩa thiết thực, thể hiện tinh thần "tương thân tương ái", hướng tới một tương lai tốt đẹp cho họ.

2.1. Bất Cập Trong Quy Định Pháp Luật Hiện Hành Về Trợ Giúp

Hiện nay, pháp luật về trợ giúp xã hội thường xuyên đối với NNCĐDC chưa được quy định cụ thể trong các văn bản luật. Chính sách hỗ trợ thường được thực hiện thông qua các Nghị định và Thông tư, dẫn đến sự thiếu đồng bộ và khó khăn trong việc triển khai. Việc xác định NNCĐDC là đối tượng hưởng trợ cấp thông qua các tiêu chí như "NKT nặng", "NKT đặc biệt nặng" chưa phản ánh đầy đủ những khó khăn và nhu cầu đặc thù của họ.

2.2. Thiếu Tính Khả Thi Trong Thực Thi Pháp Luật Trợ Giúp Xã Hội

Việc thực thi pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NNCĐDC gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực, đội ngũ cán bộ chuyên trách còn hạn chế, và cơ chế giám sát, đánh giá chưa hiệu quả. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc triển khai chính sách còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót đối tượng hoặc chậm trễ trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ.

III. Cách Nâng Cao Hỗ Trợ Tài Chính Nạn Nhân Chất Độc Da Cam

Cần hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với nạn nhân chất độc da cam để đảm bảo tính khả thi. Nghiên cứu các mô hình thành công trên thế giới để học hỏi kinh nghiệm. Hỗ trợ tài chính cần đi kèm với hỗ trợ y tếhỗ trợ phục hồi chức năng. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ cộng đồng để tăng cường ủng hộ nạn nhân chất độc da cam. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích.

3.1. Đa Dạng Hóa Nguồn Hỗ Trợ Tài Chính Cho Nạn Nhân Da Cam

Cần đa dạng hóa các nguồn hỗ trợ tài chính cho nạn nhân da cam, bao gồm ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ quốc tế, đóng góp của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, và cá nhân. Xây dựng quỹ hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam với cơ chế quản lý minh bạch, hiệu quả. Ưu tiên hỗ trợ tài chính cho các gia đình có nhiều nạn nhân, nạn nhân bị bệnh nặng, và nạn nhân thuộc diện hộ nghèo.

3.2. Tăng Cường Hỗ Trợ Y Tế Và Phục Hồi Chức Năng Toàn Diện

Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần tăng cường hỗ trợ y tếhỗ trợ phục hồi chức năng cho NNCĐDC. Mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế, chi trả các chi phí khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, và thuốc men cho nạn nhân. Xây dựng các trung tâm phục hồi chức năng chuyên biệt, cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý, trị liệu ngôn ngữ, và các hoạt động thể thao, văn hóa nghệ thuật phù hợp.

IV. Giải Pháp Pháp Lý Hoàn Thiện Luật Trợ Giúp Nạn Nhân Da Cam

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về trợ giúp nạn nhân chất độc da cam, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi. Xây dựng Luật Trợ giúp nạn nhân chất độc da cam để nâng cao hiệu lực pháp lý. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện chính sách. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trợ giúp xã hội.

4.1. Xây Dựng Luật Trợ Giúp Nạn Nhân Chất Độc Da Cam

Việc xây dựng Luật Trợ giúp nạn nhân chất độc da cam là cần thiết để nâng cao hiệu lực pháp lý, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chính sách. Luật cần quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, các hình thức trợ giúp, nguồn lực tài chính, và cơ chế giám sát, đánh giá.

4.2. Rà Soát Sửa Đổi Các Quy Định Pháp Luật Liên Quan

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về trợ giúp xã hội, người khuyết tật, người có công với cách mạng, và các văn bản pháp luật khác có liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, và phù hợp với tình hình thực tế. Loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, hoặc không còn phù hợp.

V. Nghiên Cứu Pháp Luật Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Hỗ Trợ

Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc bồi thường cho nạn nhân chất độc da cam. Tìm hiểu các mô hình tổ chức hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam hiệu quả. Học hỏi kinh nghiệm về nghiên cứu về chất độc da cam và sức khỏe từ các nước tiên tiến. Áp dụng các phương pháp điều trị và phục hồi chức năng tiên tiến.

5.1. Phân Tích Kinh Nghiệm Bồi Thường Cho Nạn Nhân Chất Độc Da Cam

Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc bồi thường cho nạn nhân chất độc da cam, bao gồm các hình thức bồi thường, mức bồi thường, và cơ chế giải quyết tranh chấp. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thành công hoặc thất bại của các chương trình bồi thường.

5.2. Nghiên Cứu Về Hợp Tác Quốc Tế Trong Vấn Đề Da Cam

Nghiên cứu kinh nghiệm về hợp tác quốc tế trong việc giải quyết hậu quả chất độc da cam ở Việt Nam, bao gồm việc thu hút nguồn viện trợ quốc tế, chuyển giao công nghệ, và đào tạo nguồn nhân lực. Phân tích các rào cản và thách thức trong quá trình hợp tác.

VI. Tương Lai Hướng Đến Cuộc Sống Tốt Đẹp Cho Nạn Nhân Da Cam

Tiếp tục nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác động của chất độc da cam. Đảm bảo quyền lợi của nạn nhân chất độc da cam. Hướng tới một xã hội công bằng, văn minh, nơi nạn nhân chất độc da cam được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.

6.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Tác Động Của Chất Độc Da Cam

Tiếp tục nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác động của chất độc da cam đối với sức khỏe con người và môi trường, thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục, và vận động chính sách. Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, và cá nhân trong việc hỗ trợ nạn nhân.

6.2. Bảo Vệ Quyền Lợi Của Nạn Nhân Chất Độc Da Cam

Đảm bảo quyền lợi của nạn nhân chất độc da cam được thực hiện đầy đủ và hiệu quả, bao gồm quyền được hưởng các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, và các chính sách an sinh xã hội khác. Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

17/05/2025
Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Một số vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam.

Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng của chất độc da cam đến sức khỏe con người Trong cuốn “Chất độc da cam dioxin và hệ quả” [79] và “Thảm họa da cam ở Việt Nam” [38] thì CĐDC là một loại thuốc khai hoang diệt cỏ nhằm mục đích làm trụi lá cây, là hỗn hợp chất lỏng màu nâu đỏ, đựng trong các thùng phuy sọc da cam.

Chất độc này bao gồm 4 hóa chất là: 2,4,5-T (2.5-Trichlorophennoxyacetic); 2,4-d (2,4-dichlorophennoxyacetic); cacodylic acid và phicloram.5-T có chứa độc chất dioxin – một hóa chất siêu độc hại, hóa chất bẩn nhất mà con ngƣời từng sản sinh ra. Độc tính này gây tác hại về môi trƣờng và gây rối loạn nhiều hệ gen, hệ enzyme, từ đó dẫn đến rối loạn phát triển các tế bào và tổ chức của cơ thể ngƣời [38, tr. Tác giả Nguyễn Nhƣ Phát, Nguyễn Thị Việt Hƣơng trong cuốn “Trách nhiệm và hậu quả chất da cam/dioxin ở Việt Nam” đã chỉ ra trong vòng 10 năm (1961 - 1971), quân đội Hoa Kỳ đã rải xuống miền Nam hàng triệu lít các CĐHH với hàm lƣợng dioxin rất lớn, trong đó chất da cam đƣợc sử dụng nhiều nhất. Chất này gây quái thai, đột biến gen, gây độc hại với các tế bào, đặc biệt là tế bào não, thận, gan, tim; gây ngộ độc phổi, ung thƣ, gây rối loạn quá trình trao đổi chất trong tế bào và tác động gián tiếp trên bộ máy di truyền tế bào [54, tr.

Trƣơng Quang Đạt trong luận án Tiến sĩ Y học, trƣờng Đại học Y Hà Nội về “Nghiên cứu thực trạng một số bất thường sinh sản ở huyện Phù Cát – Bình Định và thử nghiệm ghi nhận bất thường sinh sản ở cộng đồng” đã tiến hành điều tra xã hội và đƣa ra các thông tin liên quan đến sự phơi nhiễm, các bệnh tật của trẻ em sơ sinh khi có bố, mẹ sinh sống trên vùng bị nhiễm độc. Các thông tin đƣợc phân tích dựa trên các chỉ số y khoa về các bệnh bẩm sinh nhƣ hẻ môi, thần kinh, dị tật mắt, mũi, mặt. Luận án Tiến sĩ Kiến trúc của Lê Thị Bích Thuận về “Các giải pháp không gian kiến trúc đảm bảo tiện nghi cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng” đã chỉ ra các dạng tật, các mức độ khuyết tật và nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, trong đó có 9 nguyên nhân là do hậu quả của chất da cam. NNCĐDC có trình độ dân trí thấp, sống phụ thuộc vào gia đình và chính sách trợ cấp của Nhà nƣớc.

Nguyện vọng của họ muốn đƣợc phục hồi chức năng, đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc học hành, đƣợc làm việc, đƣợc tiếp cận xã hội, đƣợc đối xử bình thƣờng nhƣ những ngƣời khác trong cộng đồng [69, tr. Luận án Tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Báo đã phân tích nguyên nhân dẫn đến khuyết tật trong đó có nguyên nhân do biến chứng của CĐHH và di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà hậu quả là ngƣời dân bị mắc căn bệnh ung thƣ, tai biến sinh sản, sinh con dị tật, quái thai, chết yểu hoặc bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Luận án chỉ ra NNCĐDC là do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất da cam dẫn đến thế hệ cháu, chắt của họ bị di chứng và khuyết tật; hoặc do ngƣời dân sinh sống trong môi trƣờng bị nhiễm độc bởi chất da cam [3, tr. Luận án còn luận giải những đối tƣợng này cần có chính sách, pháp luật điều chỉnh phù hợp nhằm tạo điều kiện đặc biệt để họ đƣợc tiếp cận và thụ hƣởng quyền con ngƣời và đòi những tội đồ chiến tranh phải bồi thƣờng [3, tr.

Tác giả Văn Thị Huệ trong“Hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm chất độc hóa học dioxin, nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội” [41]; Nguyễn Thị Điệp với “Việc thực hiện chính sách ưu đãi cho đối tượng nhiễm chất độc hóa học tại huyện Yên Lập, tỉnh Vĩnh Phúc” [26] và Nguyễn Thị Huyền Trang với “Công tác xã hội đối với nhóm trẻ em bị nhiễm chất độc da cam tại Làng Hữu nghị Việt Nam”[76], các tác giả đã chỉ ra ảnh hƣởng của CĐDC lên sức khỏe con ngƣời, chất độc này phát sinh bệnh tật gây dị dạng, dị tật. Trong đề tài KHCN cấp Nhà nƣớc của Nguyễn Thế Lực về “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chính sách đối với NNCĐDC, đề xuất phương hướng và giải pháp chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện” tác giả cho rằng CĐDC là độc tố chứa dioxin và chiếm tỉ lệ cao (trên 61%) nên rất độc hại. Chất này ít tan trong nƣớc, dễ hòa tan trong mỡ nên khi đƣợc đƣa vào môi trƣờng nó nằm sâu trong đất bởi vậy CĐDC ngấm vào cơ thể ngƣời qua thực phẩm, sữa bằng ba con đƣờng nhƣ ăn uống; qua da và niêm mạc (tiếp xúc trực tiếp) và qua đƣờng hô hấp. Do đó CĐDC gây độc hại trên hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, máu và cơ quan tạo máu, hệ cơ xƣơng, thận, nội tiết, da, hệ miễn dịch, hệ thần kinh, hệ thống sinh sản nên dễ gây ung thƣ và có sự di truyền [52, tr.

10 Trong bài viết “Tác động của Dioxin đối với gia đình Việt Nam – Nạn nhân của chiến tranh sau chiến tranh Việt Nam” [29] và “Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường do phơi nhiễm với Dioxin trong thực phẩm tại điểm nóng dioxin ở Đà Nẵng” [31] thì chất da cam không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngƣời tạo ra, không hòa tan trong nƣớc tinh khiết nhƣng hòa tan trong chất béo, nó tồn lƣu và tích tụ sinh học trong dây chuyền thực phẩm. Chất này đi vào cơ thể ngƣời qua đƣờng tiêu hóa, hô hấp, qua da gây tác hại cho môi trƣờng và ảnh hƣởng lâu dài đến sức khỏe con ngƣời. Chất da cam làm gia tăng các loại bệnh tật nhƣ đột biến gây dị dạng bẩm sinh ở trẻ, giảm khả năng sinh con, các vấn đề về phổi, da [26, tr. Hoàng Bá Thịnh trong “Nạn nhân chất da cam/dioxin ở Việt Nam và nỗi lo về thế hệ tương lai”[64, tr.

90 - 98]; Lê Thị Nhâm Tuyết trong“Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - Những điều mong muốn” [80, tr. 4-6]; Phạm Hƣơng Thảo và nhóm tác giả trong “Hậu quả xã hội của chất độc da cam ở Việt Nam. Dưới đám mây u ám của sự không hiểu biết” [63, tr. 103-109] chỉ ra di chứng da cam ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, thậm chí đến thế hệ thứ ba, thứ tƣ.

Các tác giả cho rằng tùy theo năng lực, điều kiện chúng ta có thể giúp đỡ NNCĐDC theo những cách khác nhau. Một số các công trình nƣớc ngoài nghiên cứu về chất da cam và hậu quả của chất da cam. Điển hình cuốn sách “Veterant and Agent Orange” (tạm dịch Cựu chiến binh và chất độc da cam) đã cung cấp bức tranh tổng thể về hỗn hợp chất da cam 2,4 axit dicholorophenoyacetic (viết tắt là 2,4-D), 2,4,5- axit trichlorophenoxyacetic (viết tắt là 2,4,5-T), piclogram và axit cacodylic tạo nên hỗn hợp chất diệt cỏ và là nguyên nhân chính gây ra một số bệnh ung thƣ tuyến tụy, suy giảm thính lực, u ác tính, bệnh tuyến giáp, bệnh hen suyễn, nhồi máu cơ tim, viêm mũi, Parkinson, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa porphyrin, ung thƣ thanh quản, tuyến tiền liệt, ung thƣ phổi…Những căn bệnh này tập trung vào các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tại Việt Nam và họ bị phơi nhiễm bởi chất diệt cỏ [131, pp. Young trong “Agent orange exposure and attributed Health effects in Vietnam veterans” [114] (tạm dịch là Phơi nhiễm CĐDC và các ảnh hƣởng đến sức khỏe của cựu chiến binh Việt Nam) trên tạp chí Military Medicine số 176.

Bài viết đánh giá, phân tích tác hại của chất da cam lên sức khỏe 11 con ngƣời. Theo đó những ngƣời tiếp xúc với chất da cam hoặc đi về từ cuộc chiến tranh Việt Nam hầu hết đều mắc các bệnh ung thƣ tuyến tiền liệt, tiểu đƣờng, bệnh Parkinson’s … Luật pháp của quốc gia này quy định khi những cựu chiến binh thực hiện chƣơng trình kiểm tra sức khỏe và xác định là bị khuyết tật hoặc bệnh liên quan đến phơi nhiễm do chất da cam thì đƣợc bồi thƣờng, đƣợc chăm sóc sức khỏe.Crouse trong cuốn sách “The Use and effects of agent orange in Vietnam (tạm dịch là: Việc sử dụng và ảnh hƣởng của chất da cam ở Việt Nam) phân tích hậu quả của chất da cam và các ảnh hƣởng của chất da cam lên sức khỏe con ngƣời và là nguyên nhân phát sinh các bệnh về thần kinh, Hodgkin’s, Non - Hodgkin’s, parkinson’s…Paolo Mocarelli và đồng nghiệp trong“Phơi nhiễm dioxin ở người cha và giới tính của thai nhi” khẳng định những ngƣời đàn ông bị phơi nhiễm CĐDC có xác suất sinh con trai thấp hơn những ngƣời đàn ông không bị phơi nhiễm [132, tr. 1858-1863] và đây là nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới việc duy trì nòi giống cho các gia đình. Jason Grotto và Tim Jones trong “Agent range’s lethal legacy: For U., a record of neglect” tạm dịch (Di sản gây chết ngƣời của chất độc da cam: Đối với Hoa Kì, một hồ sơ bỏ bê) khẳng định CĐDC có nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thƣ, dị tật bẩm sinh [139].

Bài viết “Agent Orange Zone” của Martha Ann Overland đăng trên Tạp chí Time số tháng 9, 10 năm 2009 cho rằng CĐDC khiến cho những đứa trẻ bị dị tật qua nhiều thế hệ [141].Schlall, BSN, Fache thì các cựu chiến binh sau chiến tranh ở Việt Nam trở về mắc các bệnh ung thƣ đƣờng hô hấp (ung thƣ phổi, thanh quản, khí quản, phế quản) và bệnh đa u tủy (multiple myeloma) [62, tr.Kido thì gây ra rối loạn nội tiết [61, tr. Theo kết quả khảo, có thể thấy CĐDC đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều phƣơng diện nhƣ xã hội, sinh học, y tế…và khi nhìn nhận dƣới góc độ pháp lý thì chƣa có một định nghĩa thống nhất, tổng thể, toàn diện, sâu sắc về CĐDC và những ảnh hƣởng của CĐDC đến sức khỏe con ngƣời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ