CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong một thời gian dài, MOSFET được xem là linh kiện quan trọng trong các vi mạch điện tử vì kích thước nhỏ và tốc độ làm việc cao. Tuy nhiên, kỹ thuật điện tử hiện đại ngày nay đòi hỏi cần có sự tích hợp và nâng cao hiệu suất cho các vi mạch. Vậy nên, số lượng các transistor trong vi mạch tăng lên rất nhiều và do đó kích thước của transistor phải được thu nhỏ. MOSFET hoạt động dựa trên cơ chế phát xạ nhiệt truyền thống nên gặp phải giới hạn về độ dốc dưới ngưỡng và chịu ảnh hưởng của hiệu ứng kênh ngắn.
Mặc dù đã được áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến nhưng những khó khăn mà MOSFET đang phải đối mặt vẫn không thể thay đổi. Với cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm, TFET đã khắc phục những hạn chế vật lý của MOSFET. Vì vậy, TFET là linh kiện điện tử được xem là lựa chọn hoàn hảo thay thế cho MOSFET. Tuy nhiên, cơ chế xuyên hầm cũng là lý do khiến dòng mở trong TFET nhỏ hơn rất nhiều so với MOSFET truyền thống.
Việc nâng cao dòng mở cho TFET có thể được thực hiện bằng cách thay đổi cấu trúc cổng và thân linh kiện. Vì vậy trong chương này, luận văn sẽ tìm hiểu về sự ra đời, hoạt động cũng như ưu điểm và nhược điểm của MOSFET và TFET. Bên cạnh đó, luận văn cũng đồng thời giới thiệu về cấu trúc TFET mới giúp cải thiện dòng mở của linh kiện. GIỚI THIỆU VỀ LINH KIỆN ĐIỆN TỬ Sự phát triển của ngành linh kiện điện tử đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của các ngành công nghiệp khác.
Theo báo cáo chuyên sâu ngành linh kiện điện tử Việt Nam trên các trang viracresearch.vn và investvietnam.vn, từ năm 2010 đến nay ngành công nghiệp sản xuất các linh kiện điện tử phát triển rất nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong toàn ngành công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp của ngành linh kiện điện tử trong 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt khoảng 113,115 tỷ đồng tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2017 do doanh số bán ra các loại chip, linh kiện điện tử vẫn tiếp tục tăng trưởng dẫn đến đẩy mạnh sản xuất linh kiện điện tử ở Việt Nam để sản xuất các loại chip, chất bán dẫn và bộ xử lý di 6 động. Giá trị tiêu thụ của ngành linh kiện điện tử 9 tháng đầu năm 2018 đạt 329,447 tỷ VND tăng mạnh 28,4% so với cùng kỳ năm 2017 do nhu cầu linh kiện điển tử ngày càng tăng cao của các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam. Vì thế Việt Nam đang dần trở thành công xưởng sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử cung cấp các linh kiện điện tử và các thiết bị điện tử phục vụ trong nước và xuất khẩu ra thế giới.
Theo Quy hoạch công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đưa ra mục tiêu về tăng trưởng, giá trị sản xuất công nghiệp ngành điện tử, công nghệ thông tin rất cao, giai đoạn đến năm 2020 đạt 17-18%/năm, giai đoạn đến năm 2030 đạt 19-21%. Do sự phát triển của các ngành công nghiệp khác đòi hỏi ngành công nghiệp linh kiện điện tử ngày càng được cải tiến, sử dụng các kỹ thuật, các linh kiện điện tử tinh vi hơn. Hiện nay các linh kiện điện tử được sử dụng rất phổ biến và là linh kiện quan trọng được ứng dụng rất nhiều trong các ngành công nghiệp khác đặc biệt là ngành công nghệ thông tin. Nếu không có sự xuất hiện của các linh kiện điện tử thì xã hội sẽ không thể phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Vì thế linh kiện điện tử đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển xã hội. Về lịch sử phát triển của linh kiện điện tử, trước năm 1945, trên thế giới chỉ mới bắt đầu sử dụng những linh kiện điện tử thô sơ, cồng kềnh và rất đắt tiền. Vì thế những máy móc, thiết bị sử dụng trong ngành công nghiệp đối với các nước phát triển rất cồng kềnh và chiếm diện tích. Do linh kiện điện tử lúc này rất ít phổ biến vì thế những nước chưa phát triển các thiết bị phục vụ cho công nghiệp rất hạn chế và chủ yếu là phát triển theo hướng thủ công nghiệp.
Sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo linh kiện điện tử chỉ thực sự được quan tâm từ ngày 16/12/1947, khi ba nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm Bell Labs gồm John Bardeen, William Bradford Shockley và Walter Houser Brattain tuyên bố sáng chế thành công linh kiện điện tử mang tên “transistor”. Chiếc transistor đầu tiên được chế tạo bằng Gemanium có các cực là những tiếp xúc điểm và được ứng dụng trong các đài bán dẫn. Sau phát minh này, các nhà nghiên cứu đã phát minh ra các loại transistor với nhiều tính năng hơn và tiên tiến hơn. 7 Năm 1950, Shockley đã phát minh ra transistor tiếp xúc lưỡng cực (bipolar junction transistor (BJT)), đây là sự kết hợp của hai điôt tín hiệu riêng lẻ ngược lại, điều này sẽ cho chúng ta hai lớp tiếp xúc PN được kết nối với nhau theo chuỗi một đầu nối P hoặc N chung.
Sự hợp nhất của hai điôt này tạo ra ba lớp chuyển tiếp là cơ sở tạo nên BJT. BJT được làm từ các loại bán dẫn khác nhau có thể làm việc như một chất cách điện hoặc dây dẫn bằng cách cung cấp lên nó một điện áp. Khả năng thay đổi giữa hai trạng thái của BJT làm cho nó có hai chức năng đó là “chuyển mạch” hoặc “khuếch đại”. Vì thế BJT là transistor đầu tiên được ứng dụng cho các mạch khuếch đại dòng, khuếch đại thế và khuếch đại tín hiệu công suất.
Như vậy các nhà nghiên cứu đã tạo ra các transistor với nhiều tính năng hơn, song các transistor vẫn chiếm diện tích lớn nên các thiết bị bán dẫn vẫn có kích thước lớn, vì thế đòi hỏi cần nghiên cứu tìm ra các transistor nhỏ hơn, tinh vi hơn hoặc tìm cách làm giảm diện tích chiếm không gian của các linh kiện trong thiết bị để thiết bị được thu nhỏ hơn, gọn hơn. Kilby phát minh ra mạch tích hợp đầu tiên với ý tưởng về việc tích hợp các linh kện điện tử như: điện trở, transistor, condenser lại với nhau trên một bản mạch. Mạch tích hợp ra đời tạo tiền đề cho việc nghiên cứu tạo ra các transistor nhiều hơn trên một không gian nhất định, các transistor có thể được chế tạo dễ hơn, nhỏ hơn nhằm phát triển, nhân rộng số lượng transistor để nó có thể phổ biến hơn trên thị trường thế giới, đồng thời tiết kiệm nguyên vật liệu và thiết bị bán dẫn có kích thước nhỏ hơn. Năm 1926 với ý tưởng về việc điều khiển dòng trong linh kiện điện tử bởi điện trường vuông góc với dòng điện tích nhờ điện thế cổng đã được Juilius Lilienfeld phát hiện ra nhưng trong thời gian này công nghệ để chế tạo nên chiếc transistor như vậy là không thể.
Atalla đã báo cáo về transistor trường kim loại-oxit-bán dẫn (metal-oxide- semiconductor field effect transistor (MOSFET)) [1] và đến năm 1962 đã chế tạo được MOSFETđầu tiên. Công nghệ MOSFET lúc này là trung tâm của các vi mạch. MOSFET có những ưu điểm như: dễ chế tạo và được sử dụng phổ biến trong các ứng dụng mạch tích hợp do kích thước tương đối nhỏ, hàng triệu linh kiện điện tử có thể được tạo ra trên một vi mạch. Phác họa cấu trúc của MOSFET (a) loại n và (b) loại p.
MOSFET là một linh kiện được tạo thành chủ yếu bởi phần kim loại– oxit–chất bán dẫn và có cấu trúc đơn giản gồm ba điện cực như được phác họa trong hình 1. Điện cực cổng nằm ở phía trên, bên dưới điện cực cổng có lớp oxit; hai điện cực nguồn và máng nằm ở hai bên của cực cổng và được pha tạp cùng loại; vùng kênh là vùng dưới lớp oxit giữa cực nguồn và cực máng; phía dưới vùng kênh và hai điện cực nguồn và máng là thân của MOSFET, thân được pha tạp với nồng độ nhỏ và khác loại với hai cực nguồn 9 và cực máng. Dựa vào loại pha tạp của hai điện cực nguồn và máng MOSFET được chia ra làm hai loại là MOSFET kênh n và MOSFET kênh p. MOSFET kênh n có cực nguồn và máng được pha tạp nồng độ cao với chất bán dẫn loại n và thân được pha tạp loại p nồng độ thấp.
Ngược lại, MOSFET kênh p có cực nguồn và máng được pha tạp nồng độ cao với chất bán dẫn loại p và thân được pha tạp loại n nồng độ thấp. Đối với MOSFET kênh n, khi đặt điện thế dương vào điện cực cổng, trong lớp oxit sẽ xuất hiện một điện trường thẳng đứng, điện trường này xuyên qua lớp bán dẫn và nếu điện trường đủ lớn thì dưới lớp oxit sẽ xuất hiện một lớp điện tử gọi là vùng kênh. Khi đặt điện áp giữa cực máng và cực nguồn thì lớp điện tử sẽ chuyển động từ nguồn qua kênh đến máng. Đối với MOSFET kênh p thì ngược lại, dòng dịch chuyển là lỗ trống.
Vậy hoạt động của MOSFET cơ bản là điện thế qua hai điện cực cổng và điện cực nguồn điều khiển dòng chạy qua điện cực máng. MOSFET hoạt động dựa trên cơ chế khuếch tán nhiệt qua hàng rào thế. Ở trạng thái tắt, rào thế nhiệt cao nên các điện tử không thể chảy từ nguồn đến máng. Ở trạng thái mở, cực cổng điều khiển lên vùng kênh làm hạ thấp rào thế nhiệt nên cho phép điện tử di chuyển tạo ra dòng điện.
MOSFET được chế tạo đơn giản. Vật liệu ban đầu tạo ra MOSFET kênh n là một wafer được pha tạp nhẹ loại p. Màng điôxit silic được phát triển và màng nitrit silic được lắng đọng trên bề mặt của thân MOSFET. Sau đó boron được cấy qua màng điôxit silic và màng nitrit silic vào nền silic để tạo nên mặt pha tạp loại p với nồng độ cao.
Sau quá trình ăn mòn nitrit silic sẽ tạo ra vùng kênh và lớp oxit. Loại bỏ lớp oxit và cấy lớp ôxit cổng trên bề mặt vùng kênh (tùy theo linh kiện có thể cấy nguyên tử Boron hoặc nguyên tử Arsen vào vùng kênh). Sau đó tạo một lớp polysilic pha tạp nồng độ cao nhờ khuếch tán hoặc nuôi cấy ion. Tiếp theo, tạo khung cho cổng nhờ in quang và cấy các nguyên tử Arsen để tạo thành vùng nguồn và máng.
Và cuối cùng là kim loại hóa, oxit được pha tạp photpho được lắng đọng trên toàn bộ wafer để bảo vệ bề mặt linh kiện [2]. Công nghệ MOS (Complementary Metal-Oxide-Semiconductor (CMOS)) đã góp phần phát triển các ngành công nghệp khác trong đó đặc biệt là ngành 10 công nghệ thông tin.