Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về ba vấn đề chính: giả hạt exciton, dòng vật liệu TMDs, và phương pháp toán tử FK. Trong phần giả hạt exciton chúng tôi sẽ trình bày sơ lược về khái niệm exciton, các mô hình exciton phổ biến và thành tựu đạt được, bên cạnh đó chúng tôi cũng đưa ra một số tiêu chí phân loại exciton. Tiếp đến, dòng vật liệu TMDs sẽ được trình bày về khái niệm, những ưu điểm ở trạng thái đơn lớp so với trạng thái khối (ba chiều), và những tiềm năng về ứng dụng và dòng vật liệu này mang lại.
Cuối cùng chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về lịch sử hình thành, các ý tưởng chính và nội dung của phương pháp toán tử FK, cũng như những bước phát triển mà nó đã đạt được từ lúc xây dựng. Exciton Trong phần này, đầu tiên chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm exciton, những ảnh hưởng của nó trong dòng vật liệu thấp chiều, và vấn đề khác liên quan đến exciton. Tiếp theo đó chúng tôi sẽ trình bày sơ lược về ý tưởng, những thành công của mô hình exciton Frenkel và mô hình exciton Mott – Wannier. Và cuối cùng chúng tôi sẽ đưa ra một số tiêu chí phân loại exciton phổ biến.
Tổng quan về exciton Exciton là trạng thái liên kết giữa electron và lỗ trống thông qua lực liên kết Coulomb, nó thường xuất hiện trong các vật liệu có khe cấm năng lượng như bán dẫn và điện môi. Exciton có thể được hình thành khi electron hấp thụ một photon có năng lượng đủ lớn để vượt khe cấm năng lượng nhảy từ vùng hóa trị vào vùng dẫn, tại vị trí electron rời đi nó để lại một lỗ trống mang điện tích dương +1e [17]. Trong một số điều kiện đặc biệt như tương tác đẩy của các electron lân cận yếu, ảnh hưởng của môi trường không đáng kể, khoảng cách giữa electron và lỗ trống đủ nhỏ, tương tác điện từ giữa electron và lỗ trống đủ lớn, v.v… thì lúc này giữa electron và lỗ trống hình thành một trạng thái liên kết với lực liên kết Coulomb. Luan van 8 Vì được tạo thành từ hai hạt mang điện trái dấu và có cùng độ lớn nên điện tích toàn phần của trạng thái này bằng 0, exciton được tạo thành theo cách này còn gọi là exciton trung hòa.
Ngoài exciton trung hòa đã đề cập, trong thực tế còn xuất hiện các trạng thái liên kết phức tạp hơn như trion là trạng thái liên kết giữa hai electron và một lỗ trống (exciton âm), hay giữa electron và hai lỗ trống (exciton dương); phức tạp hơn nữa là trạng thái liên kết giữa hai exciton với nhau (biexciton) (hình 1. Các trạng thái liên kết exciton (electron: đỏ, lỗ trống: xanh biển). d) Biexciton Trong các vật liệu ba chiều truyền thống sự xuất hiện và ảnh hưởng của exciton đến tính chất vật liệu là không đáng kể, tuy nhiên khi số chiều vật liệu giảm đi thì những nhân tố như: năng lượng liên kết giữa các hạt dẫn tăng [12], xuất hiện khe cấm năng lượng trực tiếp [13], giảm hiệu ứng chắn từ môi trường [14], … dẫn đến sự hình thành exciton chiếm ưu thế (chiếm từ 1/3 đến 1/2) trong các chuyển dời quang học [15], lúc này thì những tính chất và “hành xử” của exciton trở nên có ảnh hưởng đáng kể lên tính chất của vật liệu. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện lý thuyết về exciton trong các vật liệu này là quan trọng, góp phần tiến gần hơn tới việc chế tạo ra được những vật liệu với các tính chất định sẵn mong muốn.
Ngày nay khi công nghệ nano ngày càng phát triển, các thiết bị, linh kiện điện tử đạt đến chiều dày vào cỡ bậc nano thì các hiệu ứng lượng tử thấp chiều thể hiện càng rõ, lúc này vai trò của exciton trong vật liệu cần được quan tâm, thậm chí nó còn trở thành đối tượng chính trong cơ chế hoạt động của một số các thiết bị quang điện tử như [18], [19]: các tế bào quang điện, đèn LED (light emitting diode – diode phát quang), các LASER (light amplification by stimulated emission of radiation – khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ kích thích ) bán dẫn… Là một giả hạt với spin nguyên, không mang điện tích (exciton trung hòa) và khối lượng hiệu dụng nhỏ, exciton là Luan van 9 đối tượng đặc biệt quan tâm trong các hiệu ứng vật lý như Coulomb Brag [20], hiệu ứng Hall lượng tử phân số [21], hiện tượng ngưng tụ Bose – Einstein [22],. việc nghiên cứu exciton góp phần hoàn thiện lý thuyết về các hiệu ứng này. Các mô hình exciton và những thành tựu Để xây dựng lý thuyết về exciton người ta đưa ra khá nhiều mô hình trong đó hai mô hình nổi bật nhất là mô hình của Frekel và của Mott – Wannier (hình 1. Mô hình exciton Frenkel: Động lực để Frenkel xây dựng mô hình này đến từ hai yếu tố quan trọng.
Yếu tố đầu tiên và cũng mang tính quyết định đến từ những công trình đầu tiên của ông [43], [44]. Trong các công trình này Frenkel đã đưa ra các mô tả về các “sóng kích thích” (excitation waves) dựa trên sự tương đồng với sóng âm, để mô tả các chuyển động nhiệt trong các tinh thể khí hiếm. Ông cho rằng trạng thái kích thích này có thể xem như một giả hạt, chuyển động của nó trong mạng tinh thể chỉ truyền năng lượng mà không truyền điện tích. Đến năm 1936 trong công trình [45] Frenkel lần đầu sử dụng khái niệm exciton thay cho khái niệm sóng kích thích trong các công trình trước của mình.
Yếu tố thứ hai đến từ những số liệu thực nghiệm trong các công trình đo phổ năng lượng trước đó của Becquerel [46] vào năm 1907, cũng như của Obreimov và de Haas [47] vào năm 1929. Trong các công trình này xuất hiện các dải phổ hấp thụ hẹp ở vùng nhiệt độ thấp mà hiểu biết đương thời không thể giải thích được. Hai yếu tố trên đã thúc đẩy Frenkel xây dựng mô hình của mình. Để thực hiện việc này, ông xét đến tương quan các electron trong giản đồ Bloch, tiếp đó ông giả sử các nguyên tử trong tinh thể tương tác yếu với nhau và sử dụng gần đúng Heitler – London để xây dựng lý thuyết mô tả dải năng lượng có xét đến phổ của exciton [48].
Mô hình này thành công khi áp dụng để mô tả exciton trong các tinh thể hữu cơ. Mô hình cũng thể hiện được ý tưởng của hiệu ứng tách vạch Davydov (Davydov splitting) [49], hiệu ứng này được thực nghiệm kiểm chứng trong công trình của Prikhotjko [50] và Broude cùng các cộng sự [51], đây cũng là đặc điểm quan trọng để nhận biết sự có mặt exciton trong phổ năng lượng thực nghiệm. Luan van 10 + + - - a) b) Hình 1. a) Exciton Mott – Wannier.
b) Exciton Frenkel Mô hình exciton Mott – Wannier: Mott và Wannier độc lập phát triển lý thuyết exciton trong vật liệu bán dẫn trong các công trình của mình vào năm 1937 và 1938 [52], [53]. Để xây dựng lý thuyết cho mô hình của mình hai tác giả cũng xuất phát từ sơ đồ hàm Bloch, họ đã chỉ ra được trường hợp giới hạn đặc biệt là khi 1 và me (trong điện môi) thì phổ của exciton lúc này xuất hiện được trong giản đồ năng lượng. Cụ thể, hai tác giả có cùng ý tưởng khi xem exciton tạo thành một hệ giống nguyên tử hydro, nó là trạng thái liên kết giữa electron và lỗ trống thông qua tương tác Coulomb. Theo đó phổ năng lượng được tính theo công thức: e4 En , (1.1) 2 2 2 n 2 trong đó n 1, là khối lượng rút gọn của electron và lỗ trống, là hằng số điện môi.
Mô hình này thành công trong mô tả exciton trong đại đa số các vật liệu bán dẫn [48] Cu2O, GaAs, CdS, …. Ngoài hai mô hình kể trên còn có mô hình exciton trao đổi điện tích (exciton charged transfer) nó là trạng thái trung gian giữa mô hình exciton Frekel và mô hình exciton Mott – Wannier. Phân loại và tính chất Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày phân loại exciton theo hai tiêu chí phổ biến là theo điện tích và theo vật liệu. Trong quá trình phân loại những đặc điểm cũng như tính chất của exciton mỗi loại sẽ được nêu rõ.
Luan van 11 Theo điện tích: Về mặt điện tích exciton có thể phân thành: exciton trung hòa, exciton âm, exciton dương. Exciton trung hòa được cấu thành từ một electron và một lỗ trống liên kết với nhau, trạng thái liên kết này có dạng giống với hệ nguyên tử hydro tuy nhiên do khối lượng của lỗ trống rất nhỏ (xấp xỉ khối lượng electron) so với khối lượng hạt nhân nguyên tử hydro, nên khối lượng rút gọn của exciton lúc này nhỏ hơn nhiều so với khối lượng rút gọn của hệ nguyên tử hydro. Exciton dương được cấu thành từ một electron liên kết với hai lỗ trống, trạng thái liên kết này giống với các ion dương dạng tựa như H2+. Tương tự như trường hợp exciton trung hòa thì khối lượng rút gọn của hệ exciton dương cũng nhỏ hơn nhiều so với hệ các ion dương tựa H2+.
Exciton âm được cấu thành từ hai electron liên kết mới một lỗ trống, trạng thái liên kết này giống với nguyên tử heli. Khối lượng rút gọn của exciton âm cũng nhỏ hơn nhiều so với nguyên tử heli. Exciton dương và exciton âm còn có tên gọi chung là trion. Từ các đặc điểm trên mà các bài toán về exciton có thể giải quyết dựa trên sự tương đồng với các bài toán đã giải cho hệ nguyên tử hydro hay các ion và nguyên tử dạng tựa nguyên tử hydro.
Theo vật liệu: Cho đến hiện tại thì exciton đã được phát hiện trong hầu hết các bán dẫn, điện môi. Thực tế cho thấy có mối liên hệ giữa mô hình exciton và bản chất của vật liệu. Mô hình exciton Frenkel giải thích tốt cho các exciton trong các vật liệu hữu cơ (tinh thể phân tử), trong alkali halides, và các tinh thể khí hiếm. Các exciton này có chung tính chất [17]: Năng lượng liên kết lớn (vào cỡ bậc eV), bán kính tương tác giữa electron và lỗ trống nhỏ (cỡ 10 Å ).
Nhóm các exciton thỏa tính chất trên còn được gọi là exciton phân tử hay exciton Frenkel. Mô hình exciton Mott – Wannier giải thích tốt cho các exciton trong bán dẫn. Các exciton này có chung tính chất [17]: Năng lượng liên kết nhỏ (vào cỡ 10 0 meV), Luan van 12 bán kính tương tác giữa electron và lỗ trống lớn (cỡ 100 Å), ảnh hưởng của môi trường ảnh hưởng mạnh đến tính chất exciton. Nhóm các exciton thỏa tính chất trên còn gọi là exciton dạng nguyên tử hydro hay exciton Mott – Wannier.