Chương I: Giới thiệu x Chương II: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ nhân quả giữa sản lượng điện tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế x Chương III: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu x Chương IV: Kết quả nghiên cứu và giải thích các kết quả thu được x Chương V: Kết luận và gợi ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA SẢN LƯỢNG ĐIỆN TIÊU THỤ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ASEAN. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Theo định nghĩa của Simon Kuznets, “tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động”.
Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số (Douglass C. North và Robert Paul Thomas). Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng. Nó được hiểu một cách khá thống nhất là chỉ sự tăng thu nhập trên đầu người.
Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một quốc giatăng lên, bằng bất cứ cách gì đó, và cùng với nó là thu nhập trung bình tăng, thì quốc gia đó đạt được tăng trưởng kinh tế. Cách đo lường Để đo lường tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng). Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người).
Bài nghiên cứu này chọn tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để đo lường sự tăng trưởng kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế học đã luôn tìm hiểu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế. Sau nhiều năm, kiến thức về quá trình tăng trưởng đã mở rộng ra rất nhiều nhưng cũng chưa hoàn chỉnh (Economics of Development - Seventh Edition - Dwight H.
Perkins et al). Có rất nhiều yếu tố có tầm quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nằm ở trọng tâm của hầu hết các lý thuyết tăng trưởng kinh tế như lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế gồm các nhà kinh tế tiêu biểu Adam Smith, R. Malthus, David Ricardo; Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes (Mô hình Harrod-Domar); lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế (Mô hình Solow)…là mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất cơ bản là vốn, lao động và năng suất sử dụng các yếu tố sản xuất đó. Trong cuốn “Economics of Development” (Seventh Edition), Dwight H.
Perkins et al đã nói rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình cơ bản là:Sự tích lũy các yếu tố sản xuất chính là sự gia tăng quy mô trữ lượng của các yếu tố sản xuất - vốn và lực lượng lao động. Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Vốn ở đây được đặt ra dưới dạng vật chất bao gồm toàn bộ tư liệu: Nhà máy, công xưởng, máy móc thiết bị, đường sá, bến cảng, phương tiện vận chuyển…cũng như khoáng sản, đất đai, dầu mỏ, rừng, đại dương được bao gồm trong định nghĩa rộng của trữ lượng vốn… Lực lượng lao động là nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu. Lao động không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn thể hiện ở chất lượng.
Lao động cần phải được nâng cao có kiến thức, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, trí tuệ …đáp ứng cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao. Tổ chức lao động có hiệu quả sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất. Perkins (Economics of Development,2012), tăng trưởng năng suất được định nghĩa là sự gia tăng sản lượng tạo ra từ một cỗ máy hay một người lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể tăng năng suất theo hai cách: Thứ nhất là việc cải thiện hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất.
Ví dụ, ban đầu có một người lao động chịu trách nhiệm sản xuất một sản phẩm từ công đoạn đầu tiên cho đến công đoạn cuối cùng. Nhưng để đạt được năng suất cao hơn có thể bố trí sao cho mỗi người chuyên làm một giai đoạn nhất định thì nhà sản xuất có thể tăng sản lượng. Thứ hai là thông qua việc nâng cao công nghệ, những ý tưởng mới, máy móc mới, hay cách tổ chức mới sẽ làm gia tăng sản lượng. Một nước có thể phát triển nhanh chóng hơn các nước còn lại nếu họ có thể phát minh ra những công nghệ mới và nhanh chóng đưa vào áp dụng sản xuất.
Lý thuyết về mối quan hệ giữa sản lượng điện tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế.1 Lý thuyết về mối quan hệ giữa sản lượng điện tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng đưa ra bốn giả thiết với bốn khả năng có thể xảy ra: (i) giả thiết trung lập là không có mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và sản lượng tiêu thụ năng lượng; (ii) giả thiết bảo tồn tức có mối quan hệ một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng; (iii) giả thiết tăng trưởng tức có mối quan hệ một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thật đáng tiếc là không có cách nào để dự báo được giả thuyết nào trong bốn giả thuyết đó sẽ đúng cho một quốc gia hay một nhóm các quốc gia, nếu không tiến hành phân tích thực nghiệm. Thật vậy, kể từ khi năng lượng là yếu tố đầu vào của sản xuất và là hàng hóa tiêu thụ cuối cùng.
Nhiều nhà nghiên cứu đều mong đợi giả thuyết rằng mối quan hệ một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế sẽ là đặc trưng cho hầu hết các quốc gia. Nhưng không có kết luận thích hợp nào được đưa ra sau đó. Tuy nhiên nếu tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế được phân tách ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 để nghiên cứu thì mối quan hệ nhân quả giữa chúng sẽ có ý nghĩa hơn. Khi đó lý thuyết tân cổ điển có thể dùng để dự báo về mối quan hệ nhân quả đó.
Ví dụ: việc tiêu thụ năng lượng trong công nghiệp như một yếu tố đầu vào ( cùng với vốn và lao động) tác động đến đầu ra - sản lượng công nghiệp. Các nhà nghiên cứu luôn mong đợi mối quan hệ tích cực giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu trước. Trong một nghiên cứu, Yoo (2006) kiểm tra quan hệ nhân quả giữa GDP thực tế và tiêu thụ điện ở Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan trong giai đoạn 1971- 2002.
Kết quả chỉ ra có một mối quan hệ hai chiều đối với Malaysia và Singapore và một mối quan hệ một chiều cho Indonesia và Thái Lan. Nhìn chung, đối với tất cả các quốc gia này đều thể hiện mối quan hệ rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đên sự gia tăng sản lượng điện tiêu thụ. Wolde-Rufael (2006) sử dụng chuỗi thời gian của 17 nước châu Phi để kiểm tra các mối quan hệ dài hạn giữa GDP thực tế bình quân đầu người và mức tiêu thụ điện bình quân đầu người cũng như việc xác định hướng nhân quả của mối quan hệ trong giai đoạn 1971-2001. Tác giả sử dụng phương pháp giới hạn điều kiện hệ mô hình hồi quy kiểm soát sai số (UEMC) nhằm kiểm tra đồng liên kết và sử dụng phương pháp Toda-Yamamoto nhằm kiểm tra chiều của tác động nhân quả của các biến.
Kết quả được tìm thấy là 9 trong số 17 quốc gia có mối quan hệ giữa GDP thực tế bình quân đầu người và mức tiêu thụ điện bình quân đầu người trong dài hạn. Trong đó có 5 quốc gia, mối quan hệ dài hạn giữa chúng cho thấy với tiêu thụ điện bình quân đầu người sẽ gây tác động đến GDP thực tế bình quân đầu người; 4 quốc gia cho thấy sự tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến mức tiêu thụ điện bình quân đầu người; 8 quốc gia còn lại, không có mối quan hệ dài hạn nào được tìm thấy. Đối với mối quan hệ nhân quả Granger tìm thấy tác động một chiều từ GDP bình quân đầu người đến sản lượng điện tiêu thụ trên 6 quốc gia; từ sản lượng điện tiêu thụ đến GDP LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 bình quân đầu người trên 3 quốc gia; 3 quốc gia khác có mối quan hệ nhân quả hai chiều; các quốc gia còn lại tác giả không tìm thấy mối quan hệ giữa chúng. Squalli (2007) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) để ước lượng các mối quan hệ trong dài hạn và chiều hướng của mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ điện năng và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1980-2003.
Ông sử dụng mô hình tự hồi quy có phân phối trễ (ARDL) để ước tính các mối quan hệ dài hạn và kiểm định Wald kiểm định giả thiết (MWT) để xác định hướng nhân quả của nó. Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ dài hạn giữa các biến cho tất cả các nước OPEC. Mối quan hệ một chiều đã được tìm thấy trên 6 quốc gia trong các quốc gia OPEC và 5 quốc gia còn lại có mối quan hệ hai chiều mạnh mẽ. Chen et al.
(2007) ước lượng mối đồng liên kết trong dài hạn và mối quan hệ nhân quả giữa GDP và tiêu thụ điện của 10 nước châu Á đang phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 1971-2001. Đây là một trong những nghiên cứu duy nhất sử dụng cả chuỗi thời gian và kỹ thuật dữ liệu bảng cho việc ước lượng các mối quan hệ. Cả chuỗi thời gian và dữ liệu bảng đều đã được tiến hành kiểm định tính dừng để đánh giá tính dừng của dữ liệu. Kiểm định tính đồng liên kết cũng được tiến hành và đã phát hiện mối quan hệ giữa GDP và mức tiêu thụ điện.
Kết quả từ dữ liệu chuỗi thời gian cho biết có những mối quan hệ khác nhau ở các quốc gia khác nhau.