MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội hiện đại ngày càng phát triển sẽ kéo theo nhiều áp lực từ cuộc sống, công việc. Căn bệnh trầm cảm đang có dấu hiệu gia tăng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.Trầm cảm hiện là một vấn đề sức khỏe về tâm thần nghiêm trọng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) có xấp xỉ 298 triệu người mắc trầm cảm trong năm 2015 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu), riêng tại Việt Nam có khoảng 3,6 triệu người bị rối loạn trầm cảm, chiếm 4% trên tổng dân số.
Một số người nghĩ trầm cảm là một căn bệnh tâm lý không quá nghiêm trọng. Nhưng thực tế, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, trầm cảm có thể ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe về tinh thần và thể chất. Những căng thẳng kéo dài sẽ gây hại tới các bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là hệ thống tim mạch. Theo Tổ chức y tế thế giới tới năm 2020, trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh lý tim mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong [60].
Trầm cảm ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của tất cả chúng ta, ảnh hưởng tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè; ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội, năng suất lao động cũng như sự phát triển cá nhân nói chung. Đặc biệt hơn với đối tượng là phụ nữ, họ vừa tham gia đóng góp cho xã hội, vừa đảm nhận vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình. Đối với người phụ nữ, gia đình và con cái luôn là ưu tiên hàng đầu. Chính những đứa con khỏe mạnh, ngoan ngoãn sẽ là nguồn động lực giúp cho người phụ nữ có thể hoàn thành tốt các vai trò của mình.
Nhưng trong một số trường hợp không may mắn, người phụ nữ lại rơi vào hoàn cảnh có con bị khuyết tật. Theo Beck và cộng sự (1974) , cảm nhận tuyệt vọng đã được xác định là một trong những đặc điểm cốt lõi của trầm cảm, Một biểu hiện thường gặp của trầm cảm là những cách nhìntiêu cực về tương lai. Việc sinh nở, có em bé gây 1 z ra hy vọng và kỳ vọng tích cực ở tương lai ở người mẹ. Tuy nhiên, đứa con họ sinh ra lại mang khuyết tật, đây chính là cú sốc với người mẹ dẫn đến tình trạng trầm cảm.
Khi họ phải đối mặt với tình huống đó trong cuộc sống, sẽ xảy ra rất nhiều cảm xúc tiêu cực như : đau buồn, mất mát, sự hoài nghi, tội lỗi, từ chối, bất lực, phủ nhận, giả dối, lo lắng, tức giận và trầm cảm trong một thời gian dài[26]. Cuộc sống của gia đình trẻ khuyết tật bị thu hẹp, hầu hết xoay quanh việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ khuyết tật, các hoạt động tương tác của gia đình trẻ với xã hội bên ngoài bị hạn chế. Thêm vào đó là sự lo lắng của gia đình về tương lai,sự hòa nhập sau này của trẻ[39]. Khi trong gia đình có sự hiện diện của trẻ khuyết tật,gánh nặng kinh tế gia tăng,trách nhiệm chăm sóc trẻ nhiều hơn, cả gia đình phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới, dẫn đến các xung đột trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
Gia đình trẻ cũng gặp nhiều vấn đề về tâm lý khi phải chấp nhận và chung sống với trẻ khuyết tật đồng thời là cầu nối giúp trẻ hòa nhập với gia đình và xã hội. Người mẹ phải dành phần lớn thời gian để chăm sóc trẻ khuyết tật, họ không có thời gian dành cho bản thân và các mối quan tâm khác, dẫn đến căng thẳng về cả thể chất lẫn tinh thần, nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm ở bà mẹ tăng cao. Sức khoẻ tâm thần của bà mẹ liên quan chặt chẽ đến khả năng chăm sóc trẻ, chính vì vậy chúng ta cần chú ý nâng cao sức khỏe củacác bà mẹ một cách toàn diện cả về sức khoẻ thể chất lẫn sức khỏe tâm thần. Tại khoa Phục hồi chức năng, bệnh viện Nhi Trung ương, qua quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin cho thấy hàng năm có khoảng 20.000 lượt trẻ khuyết tật đến khám chữa bệnh ; 80% trong số đó là trẻ dưới 06 tuổi[18].
Một trong những thực tế tại đây là chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa bệnh viện với gia đình trẻ vì ngoài thực hiện công tác chuyên môn, việc tư 2 z vấn cho gia đình về cách chăm sóc trẻ tại nhà còn cần sự cam kết và hợp tác từ phía gia đình trẻ KT. Về phía gia đình và xã hội thường chỉ biết phụ thuộc vào sự điều trị tại bệnh viện chứ chưa phát huy hết vai trò của gia đình và cộng đồng trong công tác chăm sóc và PHCN cho trẻ khuyết tật. Qua kết quả phỏng vấn nhanh 10 bà mẹ có con đang điều trị tại khoa Phục hồi chức năng (tháng 12/2016) cho thấy chỉ có 2/10 bà mẹ cho biết có sự khả quan về tình trạng tiến triển tốt lên về tình trạng bệnh của con em mình, 6/10 bà mẹ không tin tưởng vào sự tiến triển của tình trạng tàn tật. 9/10 bà mẹ có sự lo lắng, bi quan và phiền muộn về tình trạng tàn tật của trẻ.
Tại thời điểm hiện tại ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về trầm cảm ở những bà mẹ có con bị khuyết tật, chính vì lí do này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại bệnh viện Nhi Trung ương”. Đối tƣợng nghiên cứu - Trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật dưới 6 tuổi đến khám và chữa bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương tại thời điểm nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu - Làm rõ, sáng tỏ hơn về trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật và những yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở bà mẹ.Từ đó đưa ra những kiến nghị giúp bản thân người mẹ, gia đình trẻ KT hiểu rõ hơn về trầm cảm, các nguy cơ để đưa ra cách ứng phó, phòng ngừa mắc trầm cảm. Về phía cộng đồng , xã hội cần thúc đẩy công tác hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ KT đặc biệt là người mẹ, trợ giúp an sinh xã hội cho trẻ KT nhiều hơn nữa.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu các lý luận về rối loạn trầm cảm và trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật dưới 6 tuổi. - Nghiên cứu mức độ trầm cảm của bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại khoa Phục hồi chức năng - bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2017. - Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại khoa Phục hồi chức năng - bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2017. - Đề xuất những kiến nghị về các biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền và phổ biến kiến thức về sức khỏe tâm thần cho người dân.
Tăng cường các hoạt động phổ cập giáo dục cho bà mẹ, bố trí việc làm, tăng thu nhập hộ gia đình. Thiết lập mô hình quản lý và chăm sóc trẻ khuyết tật dựa vào cộng đồng. Khách thể nghiên cứu - 203 bà mẹ có con bị khuyết tật đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nhi Trung ương. Các loại khuyết tật ở trẻ bao gồm : KT về vận động, KT về nhìn, KT về nghe nói , KT về học , các hành vi bất thường, động kinh.
Phạm vi và địa bàn nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu là các rối loạn loạn trầm cảm của các bà mẹ ở những mức độ khác nhau như : trầm cảm mức độ nặng, mức độ vừa, mức độ nhẹ và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trên 203 bà mẹ có con khuyết tật dưới 6 tuổi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Nhi Trung ương. - Địa bàn nghiên cứu là tại khoa Phục hồi chức năng, tầng 1 nhà 8 tầng, Bệnh viện Nhi Trung ương ; Số 18/879 La Thành, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội. 4 z - Khoa phục hồi chức năng là khoa lâm sàng, tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị vật lý trị liệu và phục hồi chức năng toàn diện cho bệnh nhi. Giả thuyết khoa học - Bà mẹ có con khuyết tật có các rối loạn trầm cảm theo các mức độ khác nhau: trầm cảm ở mức độ nhẹ, trầm cảm ở mức độ vừa, trầm cảm ở mức độ nặng.
Trong đó, các bà mẹ có mức độ trầm cảm nặng và vừa chiếm ưu thế trong ba mức độ trầm cảm : trầm cảm ở mức độ nặng , trầm cảm ở mức độ vừa , trầm cảm ở mức độ nhẹ. - Một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm của bà mẹ: Học vấn của bà mẹ, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình, số con bị khuyết tật, niềm tin của bà mẹ và một số stress gặp phải trong thời gian gần đây. Trong đó, yếu tố điều kiện kinh tế, số con bị KT và niềm tin của bà mẹ được xem như các yếu tố có tác động mạnh đến việc mắc trầm cảm ở bà mẹ có con mang KT. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc. - Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. - Sử dụng thang đánh giá Beck. - Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm và trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật 1. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu dịch tễ học khác nhau về trầm cảm cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm trong cộng đồng khoảng từ 3 đến 8% : Nghiên cứu của Bệnh viện tâm thần Trung ương năm 2000 tại Thường Tín – Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm chung là 8,35% dân số[20]. Theo Trần Văn Cường (2001), nghiên cứu điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại 8 địa điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm (F32): 2,47%; rối loạn lo âu (F 41): 2,27% .Tỷ lệ bệnh nhân khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%; tại các cơ sở y tế tư nhân là 21,9% và số bệnh nhân chưa bao giờ đi khám là 68,5% [4].