CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRUNG GIAN ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM NHÃN HIỆU 1. Khái niệm nhãn hiệu, quyền đối với nhãn hiệu và hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu, quyền đối với nhãn hiệu Khái niệm nhãn hiệu Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào dùng để cá biệt hóa (individualizes) hàng hóa của doanh nghiệp nhất định và phân biệt chúng với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh”2. Tương tự như vậy, khoản 1 Điều 15 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) quy định: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa”.
Dễ dàng thấy, khái niệm nhãn hiệu được xây dựng trên chính chức năng của nhãn hiệu. Dựa vào khái niệm nhãn hiệu của WIPO, ta có thể xác định được hai chức năng “riêng biệt nhưng phụ thuộc lẫn nhau”3 của nhãn hiệu: chức năng cá biệt hóa (chức năng thông tin) và chức năng phân biệt: - Chức năng thông tin Trước hết, nhãn hiệu có chức năng thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ; cho người tiêu dùng biết rằng nhãn hiệu đó được sản xuất và kinh doanh bởi một nhà sản xuất cụ thể thông qua các dấu hiệu có tính đặc trưng cho nhà sản xuất đó. Điều này không có nghĩa là nhãn hiệu phải chỉ ra ai đã thực sự sản xuất ra sản phẩm hoặc ai là người kinh doanh sản phẩm đó. Chức năng thông tin được thỏa mãn khi người tiêu dùng có thể tin tưởng vào một doanh nghiệp nhất định, mà họ không nhất thiết phải biết, là chủ thể chịu trách nhiệm cho sản phẩm được gắn nhãn hiệu4.
Đồng thời, nhãn hiệu cũng chứa đựng thông điệp về chất lượng, tính năng của sản phẩm, uy tín của nhà sản xuất kinh doanh. Ví dụ, với nhãn hiệu “Coca-Cola”, người tiêu dùng sẽ không những được thông báo về xuất xứ của một sản phẩm nước ngọt có màu nâu nổi tiếng của nhà sản xuất Hoa Kỳ mà còn được thông tin và đảm bảo về hương vị và sự an toàn của sản phẩm đó. Vì vậy, nhãn hiệu chính là một dấu hiệu mang tính xác thực, phương thức thực tế để người tiêu dùng đánh giá chất lượng hàng hóa thông qua việc quan sát nhãn 2 WIPO (2008), WIPO Intellectual Property Handbook, WIPO Publication, tr. 8 hiệu thay vì kiểm tra từng sản phẩm5.
Trong trường hợp người tiêu dùng muốn tiếp cận sản phẩm mới, nhãn hiệu giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ phù hợp với mong muốn và khả năng kinh tế của họ. Trong trường hợp người tiêu dùng đã từng mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ, nhãn hiệu giúp họ tiếp tục sử dụng hàng hóa, dịch vụ gắn nhãn hiệu mà họ đã trải nghiệm và hài lòng. Ở phương diện này, nhãn hiệu kích thích tiêu dùng6 thông qua bảo đảm cho người tiêu dùng sự hài lòng và cơ hội để tiếp tục hài lòng7. - Chức năng phân biệt Chức năng thông tin ở trên giả định rằng nhãn hiệu có thể phân biệt hàng hóa của một doanh nghiệp nhất định với hàng hóa của các doanh nghiệp khác.
Do đó, chức năng phân biệt và chức năng thông tin không thể tách rời nhau8, và chức năng phân biệt đã phần nào bao hàm chức năng thông tin. Trên thực tế, quy định của pháp luật về khái niệm nhãn hiệu có thể chỉ xác định dựa trên chức năng phân biệt, ví dụ như quy định của Hiệp định TRIPS viện dẫn ở trên hay quy định của pháp luật Việt Nam9. Một mặt, do quy mô sản xuất, mô hình kinh doanh hiện nay, các nhà sản xuất không còn trực tiếp hiện diện trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với khách hàng; mặt khác, do sự phát triển của nền sản xuất đã đem đến cho người tiêu dùng đa dạng các lựa chọn giữa các sản phẩm, dịch vụ khác nhau hoặc tương tự về hình dạng, dấu hiệu, màu sắc, chất lượng, đặc tính, giá cả; người tiêu dùng lúc này cần đến nhãn hiệu để giúp họ nhận biết, phân biệt được các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau dựa trên các dấu hiệu có tính độc đáo, đặc sắc được gắn trên sản phẩm hay bao bì sản phẩm. Do đó, pháp luật về nhãn hiệu luôn nhấn mạnh đến chức năng cơ bản và quan trọng nhất, đồng thời cũng là mục tiêu của nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh10.
- Các chức năng khác Ngoài hai chức năng kể trên, nhãn hiệu còn có các chức năng kinh tế, xã hội khác. Để làm cho nhãn hiệu và sản phẩm trở nên phổ biến với người tiêu dùng, chủ sở hữu nhãn hiệu phải liên tục đầu tư vào công nghệ và con người để cải thiện năng suất và chất lượng. Đồng thời, họ cũng phải giảm giá thành để cạnh tranh với các đối thủ khác, từ đó tạo điều 5 Frederick Mostert (2003), “Authenticity: The Timeless Quest”, Trade mark World, (156), tr. 6 Frank Schechter (1927), “The Rational Basis of Trademark Protection”, Harvard Law Review, 40(6), tr.
7 Jeremy Phillips (2003), Trademark Law: A Practical Anatomy, Oxford University Press, tr. 9 Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT quy định nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. 10 Frank Schechter (1925), The Historical Foundations of the Law Relating to Trademarks, Columbia University Press, tr. 9 kiện thuận lợi cho người tiêu dùng và đóng góp vào sự phát triển của xã hội11.
Về phía nhà sản xuất, nhãn hiệu có chức năng kiểm tra và tổ chức thị trường. Khi nhãn hiệu trở nên nổi tiếng và chiếm lĩnh thị trường, nhà sản xuất sẽ có nhiều cơ hội để kiểm soát và tổ chức thị trường theo lợi ích của họ12. Điều này mang lại lợi ích kinh tế lớn cho nhà sản xuất, góp phần vào việc phát triển sản phẩm, tăng cường cạnh tranh và nâng cao giá trị doanh nghiệp13. Nội dung quyền đối với nhãn hiệu Xuất phát từ chức năng và tầm quan trọng của mình, nhãn hiệu đã trở thành đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, được bảo hộ bởi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Việc nghiên cứu nội dung quyền đối với nhãn hiệu là quan trọng bởi nó là tiền đề xác định hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Khác với quyền sở hữu thông thường, quyền đối với nhãn hiệu (hay quyền sở hữu trí tuệ nói chung) chỉ cho phép chủ sở hữu quyền năng sử dụng và quyền năng định đoạt14. Quyền sử dụng của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ là quyền được tự mình khai thác công dụng, chuyển nhượng, cho phép hay ngăn cấm các chủ thể khác sử dụng các quyền của mình trong thời hạn bảo hộ15. Đồng thời, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền định đoạt đối với nhãn hiệu bằng việc dịch chuyển quyền từ một hoặc nhiều chủ thể sang một hoặc nhiều chủ thể khác, hoặc làm mất đi quyền đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ của chủ sở hữu nhãn hiệu16.
Quyền năng định đoạt phụ thuộc khá nhiều vào quyền năng sử dụng: có thể sử dụng nên có thể định đoạt, sử dụng như thế nào thì việc định đoạt thường sẽ tương ứng. Điều này cho thấy, quyền sử dụng tài sản trí tuệ là một trong những quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu nhãn hiệu, và việc phân tích quyền năng sử dụng sẽ cho phép hiểu đầy đủ và toàn diện nhất về bản chất của quyền này17. Chủ sở hữu có độc quyền sử dụng nhãn hiệu, 11 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Hồng Đức, tr.
12 Nguyễn Văn Luật (2005), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 13 “Xác lập quyền sở hữu và quản trị nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Tài chính Online, [https://tapchitaichinh.vn/xac-lap-quyen-so-huu-va-quan-tri-nhan-hieu-cua-cac-doanh-nghiep-viet-nam. 14 Do tính chất vô hình của tài sản trí tuệ, chủ sở hữu quyền đối với nhãn hiệu không có khả năng chiếm hữu nhãn hiệu về mặt vật lý như các tài sản hữu hình khác, mà chỉ có khả năng chiếm hữu về mặt vật lý đối với vật thể chứa đựng nhãn hiệu đó (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2022), sđd, tr.
15 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2022), sđd, tr. 16 Theo các hình thức như chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho, từ bỏ quyền đối với nhãn hiệu, góp vốn kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bằng quyền đối với nhãn hiệu, dịch chuyển quyền đối với nhãn hiệu theo sự sáp nhập, hợp nhất, chia, tách pháp nhân. 17 Trần Lê Hồng (2012), “Một số vấn đề về tài sản trí tuệ nhìn từ góc độ khoa học pháp lý và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 02(69), tr.
10 thể hiện qua hai mặt: họ có quyền tự mình hoặc cho phép người khác sử dụng và có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu18, trừ một số trường hợp ngoại lệ19. Một vấn đề cần phải lưu ý là về phạm vi bảo hộ của quyền đối với nhãn hiệu. Về mặt thời gian, chủ sở hữu quyền chỉ được thực hiện quyền của mình trong thời hạn bảo hộ. Về mặt không gian, quyền đối với nhãn hiệu có tính lãnh thổ.
Về nguyên tắc, khi đáp ứng điều kiện bảo hộ, nhãn hiệu sẽ được bảo hộ bởi pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ đó và sự bảo hộ này không đương nhiên được mở rộng đến các quốc gia khác. Điều này xuất phát từ việc ban đầu quyền đối với nhãn hiệu chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý mà khách hàng có thể nhận diện được nhãn hiệu và nhà sản xuất thông qua nhãn hiệu. Mức độ nhận thức này chỉ đạt được ở những địa điểm có mặt hàng hóa hoặc dịch vụ có gắn nhãn hiệu và do đó có phạm vi địa lý rất hạn chế20. Nguyên tắc này được chấp nhận rộng rãi từ rất sớm21, trước khi Internet trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội và thương mại quốc tế.