Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trong khoa học pháp lý, trách nhiệm hình sự là một khái niệm dùng để chỉ hậu quả pháp lý bất lợi mà một người nào đó có thể phải gánh chịu trước nhà nước và xã hội.
Nguyên nhân của việc phải gánh chịu hậu quả pháp lý đó là vì người đó đã thực hiện một hay một số hành vi mà pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự yêu cầu. Vì vậy có thể thấy, hành vi đó có thể là hành động hoặc không hành động. Trường hợp hành động là hành vi mà pháp luật hình sự cấm và hành vi của người đó đã gây ra một hậu quả trên thực tế. Đối với trường hợp không hành động thì ngược lại, khi pháp luật hình sự yêu cầu một cá nhân nào đó phải thực hiện hành vi để giảm thiểu hoặc tránh các hậu quả xảy ra trên thực tế thì người đó lại không hành động.
Trong trường hợp này họ cũng phải gánh chịu hậu quả pháp lý. Về trách nhiệm hình sự, là một trong những hình thức nghiêm khắc nhất của trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm hình sự được nhà nước quy định trong pháp luật hình sự yêu cầu cá nhân, tổ chức buộc phải thực hiện. Mục đích của việc quy định trách hình sự nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội được cho là nền tảng, quan trọng nhất.
Do đó, nhà nước đã xây dựng những chế tài (hình phạt) trong BLHS để áp dụng cho người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích của họ. Những hậu quả pháp lý đó được gọi là trách nhiệm hình sự. 8 luan an Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 ( sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015 ) ở nước ta được quy định tại Điều 2, cụ thể như sau: Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự (do pháp nhân không phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nên tác giả không liệt kê quy định tại Điều 76). Vì vậy, cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự là hành vi phạm tội được BLHS quy định.
Tuy nhiên, ở nước ta các quan điểm về trách nhiệm hình sự hiện nay vẫn đang có nhiều nhận thức khác nhau và chưa thể thống nhất. Có thể kể đến các quan điểm như: - Có quan điểm cho rằng:"Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình trước nhà nước"; - Quan điểm khác lại cho rằng: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện phạm tội và thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định" [4, tr. - Quan điểm: "Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện" [19, tr 14]. - Quan điểm khác cho rằng: "Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết 9 luan an tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt và các biện pháp tư pháp) và mang án tích [12, tr 281-282]. Với những quan điểm trên cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận của các nhà khoa học pháp lý nước ta về trách nhiệm hình sự. Điều đó cũng nói lên rằng đây là một khái niệm khá phức tạp việc xác định các tiêu chí cũng thể hiện quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu. Có thể thấy các quan điểm trên thì có tác giả coi trách nhiệm hình sự khá rộng như việc coi việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, án tích., là trách nhiệm hình sự [5].
Đồng thời cũng có quan điểm khá hẹp khi cho rằng trách nhiệm hình sự chỉ là những hậu quả bất lợi do tòa án áp dụng (quyết định) [19]. Theo quan điểm của tác giả cho rằng bất cứ hành vi nào của một chủ thể nào đó đều có mối quan hệ nhân quả. Chính vì vậy, khi một hành vi được thực hiện thì đồng thời cũng xác lập một nghĩa vụ (trách nhiệm) kèm theo. Do đó, việc xác định thời điểm chịu trách nhiệm hình sự có lẽ không nên xác định dựa trên căn cứ là quyết định của tòa án mà theo đó trách nhiệm hình sự đã phát sinh ngay khi chủ thể đó thực hiện hành vi phạm tội mà pháp luật hình sự quy định.
Nghĩa là, điểm khởi đầu của trách nhiệm hình sự, là thời điểm xẩy ra hành vi phạm tội. Từ thời điểm đó, nhà nước có quyền đòi hỏi người phạm tội phải gánh chịu trách nhiệm. Nói khác đi, từ thời đi ểm này, giữa nhà nước và người phạm tội đã phát sinh quan hệ pháp luật hình sự. Trách nhiệm hình sự, khi đó, được thực hiện bằng hai hình thức.
- Hình thức phổ biến và cơ bản nhất là hình phạt. Người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thông qua việc chấp hành bản án của Toà án xác định hình phạt cụ thể. - Trong một số trường hợp do luật quy định, trách nhiệm hình sự được thực hiện thông qua những biện pháp không phải là hình phạt, nhưng cũng là biện pháp cưỡng chế về mặt hình sự. Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, đó là các biện pháp tư pháp được quy định tại, bao gồm tịch thu vật, tiền trực tiếp 10 luan an liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường, thiệt hại, buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh; các chế định như miễn trách nhiệm hình sự, án treo., cũng là những hình thức của trách nhiệm hình sự thuộc loại này.
Như vậy, điều 2 của BLHS cho phép thấy được sự khác nhau của trách nhiệm hình sự và hình phạt, tuy hai khái niệm đó là thống nhất với nhau và liên quan mật thiết với nhau. Cũng từ đó, điều luật này cho phép thấy rõ rằng, cơ sở trách nhiệm hình sự khác với cơ sở của hình phạt. Điều 2 của BLHS chỉ quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, cơ sở của hình phạt, hay nói đúng hơn là các căn cứ của việc áp dụng hình phạt được quy định trong nhiều chế định cụ thể của Bộ luật Hình sự.
Do đó, khi Điều 2 của BLHS quy định: “phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định” cũng có chủ ý xác định rằng, một tội có nghĩa là một hành vi với những dấu hiệu nhất định, do Bộ luật quy định, không thể khác được. Vì như vậy, đó là mô hình pháp lý là cấu thành tổng quát của hành vi phạm tội. Các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử, trong những trường hợp cụ thể phải tìm cho được trong các hành vi cụ thể ấy những dấu hiệu tương ứng với cấu thành tổng quát. Khái niệm trách nhiệm hình sự, từ những quan điểm và nhận thức trên tác giả cho rằng: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội và phải gánh chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do pháp luật hình sự quy định.
Trách nhiệm hình sự và các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế Đối với trách nhiệm hình sự, một vấn đề cũng tương đối phức tạp đó là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế có phải là một phần của trách nhiệm hình sự hay không. Nó có gì liên quan đến thời điểm chịu trách 11 luan an nhiệm hình sự hay không. Vì vấn đề thời điểm chịu trách nhiệm hình sự đặt ra yêu cầu cần phải xác định mốc thời gian chịu trách nhiệm hình sự. Có nghĩa là khi nào chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khi có bản án đã có hiệu lực của tòa án hay ngay khi hành vi phạm tội xảy ra hoặc khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố bị can? Thực tế cho thấy, theo quy định của BLTTHS nước ta, trước khi bị kết tội, một người có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm… [1, Chương VII]. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp này nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm khi có căn cứ xác định việc không áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, hay những điều kiện bảo đảm khi tiến hành thi hành án. Câu hỏi đặt ra ở đây là, giai đoạn khi cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế này thì đó có được coi là một phần của trách nhiệm hình sự hay không? Vì trong những trường hợp này, rõ ràng người phạm tội đã phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự mặc dù khi đó chưa có quyết định đã có hiệu lực của tòa án. Có quan điểm cho rằng, các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế không thể hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là các biện pháp có tính chất tố tụng hình sự để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hiệu quả của việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hình sự sau này (bảo đảm thi hành án).