Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái quát về lao động nữ và quyền của lao động nữ 1. Khái niệm và đặc điểm của lao động nữ 1. Khái niệm lao động nữ Trong quá trình khai phá tự nhiên nhằm tìm kiếm điều kiện sống, tồn tại và thích nghi với thế giới tự nhiên cũng như xã hội thì lao động là hoạt động đặc trưng mang tính sáng tạo của con người, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội cũng như các nhu cầu vật chất và tinh thần khác.
Theo quan điểm của Mác “Người lao động là người sử dụng tư liệu sản xuất của chính mình hoặc của người khác một cách hợp pháp để sản xuất ra sản phẩm có giá trị sử dụng” [26]. Khoản 1, Điều 3, BLLĐ 2012 thì người lao động phải có các điều kiện sau: “Người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ; được trả lương và chịu sự quản lí, điều hành của người sử dụng lao động” [28]. Khi đáp ứng mọi điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi thì người phụ nữ được cho là người lao động bình thường. Trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động dưới 15 tuổi có giới tính nữ có khả năng tham gia vào QHLĐ trong một số ngành nghề công việc đòi hỏi không áp lực và không quá sức lao động thì gọi là lao động nữ.
Khái niệm về lao động nữ chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật mà chỉ được nhắc đến như một cụm từ chỉ người lao động mang giới tính nữ, các văn bản cũng chưa chỉ tra những đặc trưng, đặc thù trong lao động của đối tượng này. Trên cơ sở các quy định của pháp luật về lao động, các khái niệm liên quan, đề tài đưa ra 9 khái niệm về lao động nữ như sau: “Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ một số trường hợp ngoại lệ), có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, họ được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động tại các tổ chức, doanh nghiệp”. Thị trường lao động tại Việt Nam hiện nay được đánh giá là có lao động trẻ với tỷ lệ lao động nam, nữ tương đối cân bằng. Người lao động khi tham gia vào thị trường lao động được quan tâm bảo vệ, đối với các lao động đặc thù BLLĐ 2012 đã có quy định dành riêng cho từng loại lao động này.
Tuy nhiên, việc chúng ta có quy định cụ thể về lao động nữ, chủ thể trong QHLĐ và nghiên cứu về trách nhiệm của người sử dụng lao động, chủ thể thứ hai trong QHLĐ là hoàn toàn khác nhau. Pháp luật lao động Việt Nam có quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động nhưng việc thực thi các quy định này trong thực tế thường gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, ngay từ chính lao động nữ. Đặc điểm của lao động nữ Sự khác biệt về đặc điểm đã ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội thăng tiến, việc làm, học vấn, trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình. Trên cơ sở chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình, người lao động nữ có những đặc điểm nhận biết riêng như sau: Thứ nhất, bên cạnh các hoạt động lao động chuyên môn thì lao động nữ vừa phải thực hiện “thiên chức” mặc định của mình là làm mẹ, làm vợ.
Khả năng sinh nở là thiên chức của phụ nữ và có thể nói đây là đặc điểm chung của giới tính nữ (trừ một số trường hợp do nguyên nhân khách quan làm ảnh hưởng đến thiên chức thiêng liêng này). Sự khác biệt lớn nhất giữa lao động nam và lao động nữ chính là việc lao động nữ trong quá trình làm việc sẽ phải trải qua các thời kỳ, thời điểm mang thai, sinh đẻ, nuôi con, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau, kinh nguyệt hàng tháng, v. Như vậy, lao động nữ đang phải 10 chịu rất nhiều áp lực, bởi việc trải qua các thời kỳ tự nhiên trong quá trình lao động thường ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của họ, họ cần có sự quan tâm động viên từ phía gia đình và tổ chức, doanh nghiệp nơi họ công tác và làm việc. Thứ hai, lao động nữ còn phải quán xuyến việc nhà, chăm sóc gia đình song song với các hoạt động lao động tại các tổ chức và doanh nghiệp.
Bởi theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam, lao động nữ thể hiện vai trò này tốt hơn nhiều so với lao động nam, đồng thời cũng là đặc điểm dễ nhận biết nhất giữa lao động nam và lao động nữ. Với họ, gia đình là tất cả, việc chăm sóc chồng con mới là ý nghĩa cuối cùng của bản thân họ. Ngoài ra, còn do sự tác động của tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người từ hàng ngàn đời, đặc biệt đối với các nước Á Đông. Chính vì thế, lao động nữ thường sẽ dành thời gian cho việc nhà nhiều hơn so với nam giới.
Thứ ba, người lao động nữ rất linh hoạt, đa năng, sáng tạo và khéo léo trong quá trình thực hiện công việc mà họ được giao. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này khi tại đơn vị làm việc của mình, lao động nữ có thể vừa giải quyết các công việc mang tính học thuật hay đưa ra những quyết định cứng rắn trong công việc nhưng khi về nhà của mình, họ lại có thể thực hiện các công việc đòi hỏi tính khéo léo, tỉ mỉ như: nấu ăn, chăm sóc con cái, nội trợ, chăm sóc chồng, chăm sóc bố mẹ chồng và xử lý các mối quan hệ bạn bè, hàng xóm, v. Thứ tư, có thể thấy so với nam giới, hầu hết người lao động nữ thường có sức khỏe yếu hơn, điều này nói lên được khả năng phải chịu đựng áp lực của người lao động nữ là rất cao và tính nghiêm túc trong công việc của họ. Họ tham gia tất cả các công việc mà nam giới làm, mặt khác họ lại đảm nhiệm chính công việc nhà mà hầu như nam giới thường không quan tâm.
11 Ngày nay, trong xã hội hiện đại, do áp lực của công việc và khả năng lao động đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn để đảm bảo sức khỏe và khả năng công việc cho lao động nữ. Pháp luật phải có những quy định riêng giúp lao động nữ có thể hài hòa trong công việc hàng ngày của họ. Vai trò của lao động nữ (1) Trong gia đình, lao động nữ thực hiện chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái không chỉ lúc trong bụng mẹ, đến lúc sinh ra, mà ngay cả lúc trưởng thành. Họ là người chăm sóc và giáo dục con cái là chủ yếu với tình thương yêu vô bờ bến là hơi ấm, là nguồn sữa để nuôi con khôn lớn, là chỗ dựa tinh thần cho các con.
Người phụ nữ luôn hết lòng vì con, họ luôn là tấm gương để con cái noi theo và ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình phát triển của con. Ngày nay, mặc dù đời sống được nâng cao, các dịch vụ hỗ trợ công việc gia đình ngày càng nhiều và hiệu quả, những điều này đã tạo điều kiện giúp người phụ nữ giảm bớt những gánh nặng công việc gia đình để có thời gian quan tâm đến sở thích và đam mê của bản thân hơn, nhưng vai trò của người phụ nữ không vì thế mà mất đi. (2) Trong công việc, lao động nữ luôn thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình ở từng vị trí khác nhau. Bên cạnh công việc, lao động nữ còn phải tham gia các hoạt động học tập nhằm giúp họ tích lũy đủ kiến thức và kỹ năng để theo kịp cuộc sống.
Hiện nay, trong hoạt động sản xuất - kinh doanh ở nước ta, vị thế và tầm quan trọng của lao động nữ ngày càng được đánh giá cao, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt trong lao động. Trong các công việc hiện nay, lao động nữ tập trung công tác tại ngành may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử, ngược lại trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp nặng thì lao động nữ chiếm tỷ lệ rất ít. Nguyên nhân là 12 do đặc thù các ngành nghề, sự phù hợp các ngành nghề với người lao động và sự phân chia của thị trường lao động. (3) Trong xã hội, lao động nữ ngoài việc thực hiện thiên chức, vai trò, trách nhiệm của mình ở gia đình còn phải không ngừng học hỏi, rèn luyện để trở thành người có văn hóa, có tri thức, có kỹ năng sống để tiếp cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học, kiến thức thực tiễn để phục vụ công tác của mình.
Có một thực tế là thời gian gần đây, lao động nữ đã chủ động hơn trong các hoạt động xã hội như thiện nguyện, bảo vệ môi trường, v. và họ năng động, xung phong hơn một bộ phận nam giới. Phải nói rằng, khi xã hội có bình đẳng giới, nhận thức về vai trò và vị thế của phụ nữ đã thay đổi hoàn toàn. Họ không còn quẩn quanh với công việc nội trợ mà tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, không ngừng nghiên cứu, trau dồi khả năng và không ít người trong số họ đã đạt đến những địa vị rất cao trong mọi lĩnh vực.
Như vậy, lao động nữ không chỉ có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới hạnh phúc và sự đầm ấm của gia đình mà họ còn có vị trí không thể bỏ qua trong công việc lao động sản xuất và công việc xã hội, khi đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Quyền của lao động nữ và bảo đảm quyền của lao động nữ Pháp luật ở mỗi quốc gia đều bảo vệ người lao động dưới góc độ quyền công dân dù là nam hay nữ và điều này đã được pháp luật quốc tế đảm bảo và công nhận. Theo Ủy ban Quyền con người của Liên Hợp quốc: “Quyền của người lao động phải được bảo đảm như quyền con người” và họ đã phân chia nhóm quyền con người trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quyền dân sự và dưới góc độ pháp luật lao động [23]. Pháp luật lao động của Việt Nam luôn có những quy định dành riêng cho lao động nữ và đã dành Chương X của BLLĐ 2012 quy định về lao động nữ.