Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm theo pháp luật dân sự" được thực hiện bởi sinh viên Dương Thị Mộng Duy (chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành) dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phạm Thị Lệ Quyên vào năm 2022 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí nền tảng của quyền được bảo vệ về sức khỏe và tính mạng – nhóm quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, không thể tách rời và không thể chuyển giao. Khi sức khỏe hay tính mạng bị xâm hại, hậu quả không chỉ dừng lại ở sự tổn thất của chính nạn nhân mà còn kéo theo những thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với thân nhân, tác động tiêu cực đến các mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Về mặt hiến định, quyền sống, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, thân thể đã được khẳng định rõ tại Điều 19 và khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013. Về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dù được hình thành sớm nhưng sau hơn 7 năm áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bộc lộ những điểm bất cập, chưa hoàn toàn thích ứng với sự phát triển kinh tế – xã hội. Các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm án kiện bồi thường dân sự; sự mâu thuẫn đối lập sâu sắc về mặt tâm lý giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại dẫn đến tỷ lệ kháng cáo, khiếu nại cao. Đồng thời, trong bối cảnh các cơ quan chức năng xây dựng định hướng sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật dân sự nhằm nâng cao tính khả thi, việc đi sâu nghiên cứu cơ chế bồi thường ngoài hợp đồng đối với khách thể sức khỏe, tính mạng là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và xã hội của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm nói riêng.
  2. Phân tích, đánh giá có hệ thống các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về căn cứ phát sinh trách nhiệm, chủ thể liên quan, nguyên tắc bồi thường và phương thức xác định thiệt hại khi sức khỏe, tính mạng bị xâm hại.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các bản án cụ thể, chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình xét xử, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào hệ thống các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng và thực tiễn xét xử, áp dụng các quy định này tại cơ quan tài phán. Về phạm vi không gian, đề tài giới hạn trong khuôn khổ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, không nghiên cứu dàn trải sang các lĩnh vực tài chính, hình sự khác ngoài mục đích đối chiếu. Về phạm vi thời gian, tác giả tiến hành rà soát, so sánh các quy định từ Bộ luật Dân sự năm 2005 đến Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022).

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về nền tảng lý luận, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khóa luận kế thừa các định nghĩa pháp lý chuẩn mực từ Từ điển Luật học (Bộ Tư pháp phối hợp Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2005) về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; kết hợp hệ thống giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (Giáo trình Luật Dân sự, 2021) và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, 2021). Ngoài ra, tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao gồm sách chuyên khảo "Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" của TS. Đỗ Văn Đại; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hương (2014), Lý Hoài Thương; các bài viết chuyên san của Đỗ Văn Đại – Lê Hà Huy Pháp (Tạp chí Tòa án nhân dân, 2016) và Nguyễn Văn Hợi (Tạp chí Luật học, 2017).

Hệ thống văn bản pháp lý làm cơ sở trực tiếp gồm có:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: 19, 20, 21, 22, 23, 24, 101, 364, 584, 586, 588, 590, 591, 593, 597, 601);
  • Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  • Nghị quyết số 128/2020/QH14 ngày 12/11/2020 của Quốc hội về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2021 (xác định mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng);
  • Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 2 Điều 3);
  • Luật Hợp tác xã năm 2012 (khoản 1 Điều 3);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Chương XIV, các điều từ 123 đến 156).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện xuyên suốt qua phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa BLDS 2005 và BLDS 2015; phân biệt trách nhiệm dân sự với trách nhiệm hình sự) và phương pháp nghiên cứu hồ sơ bản án thực tế (trích xuất và đánh giá các bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 12 và Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh). Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản luật, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán, tạp chí khoa học pháp lý; dữ liệu sơ cấp trích từ các bản án xét xử thực tế đã có hiệu lực pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận chung về chế định bồi thường ngoài hợp đồng xuất phát từ lịch sử luật La Mã và sự tiếp nhận vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Tác giả phân tích khái niệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm là quan hệ pháp lý mà người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến các khách thể này phải bù đắp các tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ, hoàn toàn độc lập với các cam kết hợp đồng.

Tác giả chỉ rõ 5 đặc điểm pháp lý cơ bản của loại trách nhiệm này:

  1. Bản chất là quan hệ trách nhiệm dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, người bồi thường thực hiện nghĩa vụ trực tiếp với người bị thiệt hại mà không phải gánh chịu trước Nhà nước;
  2. Mang tính chất tài sản (trách nhiệm vật chất), mọi tổn thất về thể chất, tâm lý đều được quy đổi thành một lượng tài sản nhất định để bù đắp;
  3. Là hậu quả bất lợi buộc bên gây hại phải gánh chịu nhằm khắc phục tình trạng thiệt hại của nạn nhân;
  4. Chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra; nếu có hành vi vi phạm nhưng không gây hậu quả vật chất hay tinh thần thì trách nhiệm bồi thường không đặt ra;
  5. Được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhằm giải quyết xung đột lợi ích đối lập giữa hai bên.

Về phân loại, khóa luận phân định trách nhiệm dân sự thành hai hình thức: trách nhiệm riêng rẽ (mỗi chủ thể chỉ gánh vác phần nghĩa vụ độc lập của mình và chấm dứt nghĩa vụ khi hoàn thành phần đó) và trách nhiệm liên đới (phát sinh khi có từ hai người trở lên cùng gây thiệt hại với sự thống nhất về hành vi; bên có quyền được yêu cầu bất kỳ ai trong số những người có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại, sau đó bên đã bồi thường có quyền yêu cầu các đồng phạm hoàn lại phần tương ứng).

Bên cạnh đó, chương 1 đối chiếu chi tiết giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự khi có hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng qua 4 tiêu chí cốt lõi: cơ sở pháp lý (BLDS năm 2015 đối chiếu với 33 tội danh tại Chương XIV BLHS năm 2015 sửa đổi 2017); tư cách chủ thể chịu trách nhiệm (trách nhiệm trước người bị hại bằng tài sản đối chiếu với hậu quả pháp lý bất lợi cá nhân trước Nhà nước); yếu tố lỗi (dân sự chỉ phân chia lỗi cố ý và vô ý theo Điều 364 BLDS; hình sự phân định thành cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý do cẩu thả); và hậu quả pháp lý (bồi thường tiền, xin lỗi, cải chính đối chiếu với hệ thống hình phạt tù, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và hình phạt bổ sung).

Chương 2: Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm

Chương 2 phân tích chuyên sâu các căn cứ phát sinh trách nhiệm theo Điều 584 BLDS năm 2015, bao gồm 4 điều kiện:

  • Phải có thiệt hại thực tế xảy ra (tổn thất vật chất và tổn thất tinh thần);
  • Phải có hành vi trái pháp luật (dưới dạng hành động hoặc không hành động làm trái quy định pháp luật);
  • Mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại;
  • Yếu tố lỗi. Đáng chú ý, tác giả phân tích điểm mới của khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015: lỗi không còn là điều kiện bắt buộc tuyệt đối trong mọi trường hợp, ví dụ như trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo khoản 2 Điều 601 BLDS năm 2015 (chủ sở hữu, người chiếm hữu phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn của bên bị hại).

Về chủ thể, khóa luận làm rõ cơ chế chịu trách nhiệm theo độ tuổi và năng lực hành vi dân sự tại Điều 586 BLDS:

  • Người từ đủ 18 tuổi trở lên tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
  • Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ; nếu tài sản cha mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì trích tài sản riêng bù vào phần thiếu;
  • Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải bồi thường bằng tài sản của chính mình; nếu không đủ thì cha mẹ bồi thường phần còn thiếu;
  • Người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22), người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23), người hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24): người giám hộ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu thiếu thì người giám hộ lấy tài sản của mình bù vào, trừ khi chứng minh không có lỗi trong việc giám hộ;
  • Chủ thể pháp nhân (Điều 597) phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ, sau đó có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả;
  • Trách nhiệm của Nhà nước (Điều 598 BLDS và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.

Về phương thức xác định thiệt hại, tác giả viện dẫn chi tiết Điều 590 và Điều 591 BLDS năm 2015:

  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, điều trị, phục hồi chức năng; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút (nếu không ổn định thì tính theo mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương); chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc (chỉ tính 1 người, trường hợp đặc biệt không quá 2 người; nếu nạn nhân mất khả năng lao động từ 81% trở lên thì phải chịu chi phí cấp dưỡng thường xuyên); khoản bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
  • Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Toàn bộ thiệt hại về sức khỏe trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng (theo mục 2.2 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, bao gồm tiền mua áo quan, khâm liệm, hương, hoa, xe tang; không chấp nhận chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống linh đình, xây mộ, bốc mộ); tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng (xác định theo Điều 593 BLDS và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP: cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc thai nhi khi sinh ra và còn sống đến đủ 18 tuổi, người thành niên không có khả năng lao động đến khi chết); khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho hàng thừa kế thứ nhất tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở. Căn cứ Nghị quyết số 128/2020/QH14 (mức lương cơ sở năm 2021 là 1.490.000 đồng/tháng), mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa do tính mạng bị xâm hại được xác định không quá 149.000.000 đồng. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường được quy định là 03 năm theo Điều 588 BLDS năm 2015.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm

Chương 3 khảo sát thực tế xét xử các tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh qua 2 vụ án điển hình:

  1. Bản án số 70/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân Quận 12: Vụ việc xô xát mâu thuẫn sinh hoạt ngày 03/5/2017 giữa ông Trần T (sinh năm 1996) và bà Bùi Thị A (sinh năm 1968). Nạn nhân bị chẩn đoán chấn động não. Tòa án tuyên buộc ông Trần T chịu trách nhiệm do hành vi cố ý vi phạm pháp luật, thanh toán một lần tiền viện phí và tiền thuốc cho bà Bùi Thị A.
  2. Bản án số 578/2017/DS-ST của Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp: Vụ tai nạn giao thông sáng ngày 30/9/2014, tài xế Nguyễn Phương L điều khiển xe taxi của Công ty Cổ phần S va chạm với bà Đào Kim T đi xe đạp, gây thương tích gãy kín mâm chày trái và chấn thương đầu. Trước đó hai bên lập đơn thỏa thuận tại Công an Quận Gò Vấp (bồi thường 11.000.000 đồng chi phí thuốc men và trả góp 500.000 đồng/tháng cho đến khi hết 7.000.000 đồng) nhưng ông L không thực hiện. Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng quy định về trách nhiệm của pháp nhân đối với hành vi của người lao động, buộc Công ty Cổ phần S và tài xế Nguyễn Phương L liên đới bồi thường viện phí, chi phí khám chữa bệnh và khoản thu nhập thực tế bị mất trong 05 tháng điều trị của nạn nhân.

Từ thực tiễn xét xử, tác giả chỉ ra bất cập lớn nhất: Quy định xác định khoản bù đắp tổn thất tinh thần theo Điều 590 và Điều 591 BLDS năm 2015 còn nặng tính định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của từng Thẩm phán và từng cấp Tòa án. Việc chỉ quy định mức trần tối đa (50 lần và 100 lần lương cơ sở) mà không có mức sàn tối thiểu hay các tiêu chí lượng hóa mức độ tổn thương tâm lý dẫn đến tình trạng tùy nghi trong xét xử; trong một số vụ việc thực tế, mức bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm bị ấn định thấp hơn cả tổn thất do sức khỏe bị xâm phạm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất, đối chiếu quy định luật thực định với thực tiễn xét xử tại Tòa án cấp quận tại Thành phố Hồ Chí Minh, được tổng hợp qua bảng dữ liệu sau:

Tiêu chí so sánh Vụ án 1 (Bản án số 70/2018/DS-ST - TAND Quận 12) Vụ án 2 (Bản án số 578/2017/DS-ST - TAND Quận Gò Vấp)
Quan hệ pháp luật Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tai nạn giao thông)
Chủ thể gây thiệt hại Cá nhân (ông Trần T, sinh năm 1996) Lái xe của pháp nhân (ông Nguyễn Phương L, lái xe taxi)
Chủ thể chịu trách nhiệm Cá nhân người gây thiệt hại (tự bồi thường) Liên đới giữa pháp nhân (Công ty Cổ phần S) và người lao động (ông Nguyễn Phương L)
Hậu quả thương tổn Chấn động não do bị đánh Gãy kín mâm chày trái, chấn thương phần đầu
Các khoản bồi thường được Tòa chấp nhận Chi phí viện phí và tiền thuốc điều trị Chi phí thuốc, khám chữa bệnh, viện phí và 05 tháng mất thu nhập thực tế
Phương thức thực hiện Bồi thường một lần bằng tiền mặt, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực Bồi thường một lần bằng tiền mặt, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực

Các đóng góp cụ thể do tác giả tự xác định bao gồm:

  • Hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng đối với sức khỏe, tính mạng; làm rõ tính độc lập của trách nhiệm dân sự so với trách nhiệm hình sự trong các vụ án xâm phạm thân thể.
  • Phân tích rõ điểm mới của BLDS năm 2015 khi không còn coi yếu tố lỗi là điều kiện tiên quyết mang tính tuyệt đối để phát sinh trách nhiệm bồi thường (thông qua trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ tại Điều 601).
  • Trực tiếp chỉ ra hạn chế của cơ chế ấn định mức bồi thường tổn thất tinh thần theo mức lương cơ sở, đề xuất định hướng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định mức sàn bồi thường tối thiểu nhằm hạn chế sự tùy nghi của cơ quan tài phán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn lực nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp, phạm vi khảo sát thực tiễn mới chỉ tiếp cận được một số bản án sơ thẩm điển hình trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TAND Quận 12 và TAND Quận Gò Vấp), chưa bao quát được toàn diện thực tiễn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm cũng như bức tranh áp dụng pháp luật tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa – nơi việc thu thập hóa đơn, chứng từ chi phí y tế và đi lại gặp nhiều khó khăn.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản đề cập nhu cầu tiếp tục theo dõi, đánh giá quá trình xây dựng dự thảo luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự của Chính phủ; nghiên cứu mở rộng sang cơ chế giải quyết phần bồi thường dân sự được lồng ghép trong các vụ án hình sự về giao thông đường bộ và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe để có giải pháp đồng bộ về thủ tục tố tụng và thi hành án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế khi nghiên cứu chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể:

  • Nội dung phân tích điều kiện phát sinh trách nhiệm tại Chương 2 (Điều 584, 586, 590, 591 BLDS năm 2015) cung cấp hệ thống lập luận rõ ràng về phân định trách nhiệm của cha mẹ đối với hành vi của con chưa thành niên, trách nhiệm của pháp nhân và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước.
  • Hướng dẫn áp dụng Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP kết hợp với Nghị quyết 128/2020/QH14 là căn cứ cụ thể cho việc tính toán mức trần bồi thường tổn thất tinh thần và phân loại chi phí mai táng hợp lý trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa do tính mạng bị xâm phạm được pháp luật quy định là bao nhiêu tiền tại thời điểm nghiên cứu?
Theo khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015, mức bồi thường tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Căn cứ Nghị quyết số 128/2020/QH14 ngày 12/11/2020 của Quốc hội, mức lương cơ sở năm 2021 là 1.490.000 đồng/tháng, do đó mức tối đa được tính toán trong văn bản là 149.000.000 đồng.

2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi gây thiệt hại đến sức khỏe người khác thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai?
Căn cứ khoản 2 Điều 586 BLDS năm 2015, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải tự bồi thường bằng tài sản của chính mình; chỉ khi người này không có đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ mới phải lấy tài sản của mình để bồi thường phần còn thiếu.

3. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, những khoản tiền nào không được chấp nhận trong chi phí mai táng hợp lý?
Theo mục 2.2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, chi phí mai táng hợp lý chỉ gồm tiền mua quan tài, vật dụng khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và chi phí hỏa táng/chôn cất thông thường; Tòa án không chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với các khoản chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống linh đình, xây mộ, bốc mộ.

4. Hai vụ án xét xử thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh được tác giả phân tích tại Chương 3 là những vụ án nào?
Tác giả phân tích Bản án số 70/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân Quận 12 (vụ việc xô xát đánh nhau gây chấn động não giữa ông Trần T và bà Bùi Thị A) và Bản án số 578/2017/DS-ST của Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp (vụ tai nạn giao thông do tài xế taxi của Công ty Cổ phần S va chạm làm bà Đào Kim T gãy mâm chày trái và chấn thương đầu).

5. Người bị xâm phạm sức khỏe bị suy giảm khả năng lao động ở mức độ nào thì người gây thiệt hại phải chịu chi phí chăm sóc cho đến khi chết?
Căn cứ điểm 1.4 mục II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP được tác giả trích dẫn, trường hợp người bị thiệt hại bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên (như liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, tâm thần nặng) thì được xác định là mất hoàn toàn khả năng lao động và người gây thiệt hại phải chịu chi phí hợp lý cho người chăm sóc nạn nhân cho đến khi người bị thiệt hại chết.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Thị Mộng Duy đã hoàn thành việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực định về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông qua việc phân tích các bản án thực tế tại Tòa án nhân dân cấp quận ở Thành phố Hồ Chí Minh, công trình làm sáng tỏ sự bất cập trong việc áp dụng định tính mức bồi thường tổn thất tinh thần và xác định trách nhiệm liên đới của pháp nhân. Đề tài cung cấp những luận cứ thực tiễn có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, học tập và định hướng hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng tại Việt Nam.