Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh doanh thương mại vận động liên tục kéo theo sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp hợp đồng. Trong đó, tranh chấp về việc trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là loại tranh chấp phổ biến, thường phát sinh trong các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại.
Thực tiễn giải quyết loại tranh chấp này tại Tòa án các cấp cho thấy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau giữa các cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Cơ quan tài phán và các bên tranh chấp gặp nhiều vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật do sự thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng và có sự xung đột giữa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005. Các công trình nghiên cứu trước đây (như của các tác giả Tưởng Duy Lượng, Nguyễn Thị Mai Hương, Đỗ Văn Đại, Nguyễn Duy Phương, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Thị Tuyết Hà) phần lớn mang tính khái quát đại cương hoặc được công bố trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực và trước khi Luật Thương mại được sửa đổi, bổ sung. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài "Pháp luật hiện hành về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại" là yêu cầu cấp thiết về cả mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận, phân tích nội dung quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận pháp luật về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại.
- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định pháp luật về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó.
- Đề xuất một số yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại và thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật tại cơ quan tài phán.
- Phạm vi nội dung và không gian: Tập trung phân tích các quy định trong Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019), Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, Án lệ số 09/2016/AL; xem xét thực tiễn áp dụng qua các bản án của Tòa án nhân dân các cấp tại Đà Nẵng, Bình Dương, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh và đối chiếu với quy định trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, Bộ luật Dân sự Liên bang Nga cùng hệ thống án lệ của Anh - Mỹ.
- Phạm vi thời gian: Các văn bản pháp luật hiện hành và các phán quyết, bản án thực tiễn được ban hành, xét xử tính đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm, nguyên tắc và quy phạm pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại và chế tài tài sản do vi phạm hợp đồng:
- Khái niệm hoạt động thương mại: Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 và Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.
- Khung pháp lý về trả lãi do chậm thanh toán: Điều 353, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Án lệ số 09/2016/AL.
- Khung chế tài thương mại liên quan: Chế tài phạt vi phạm (Điều 300, 301 Luật Thương mại năm 2005; Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015) và bồi thường thiệt hại (Điều 302, 303, 304 Luật Thương mại năm 2005).
- Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật: Nguyên tắc luật chung - luật riêng theo Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 và nguyên tắc văn bản ban hành sau theo khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
- Khung tham chiếu pháp luật quốc tế: Đoạn 2, đoạn 3 Điều 1153 và Điều 1231-6, 1231-7 Bộ luật Dân sự Pháp; khoản 3 Điều 486 và Điều 395 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt khóa luận để làm rõ bản chất pháp lý của nghĩa vụ trả lãi, phân tích các điều luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, luật học so sánh: Sử dụng để phân biệt quyền yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán với chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; đối chiếu cơ chế áp dụng pháp luật của Việt Nam với quy định của Pháp, Nga, Anh.
- Phương pháp nghiên cứu án lệ và thực tiễn xét xử: Phân tích, bình luận các bản án sơ thẩm, phúc thẩm thực tế để phát hiện những mâu thuẫn, khoảng trống lập pháp và vướng mắc trong khâu giải quyết tranh chấp.
Nguồn dữ liệu:
Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2020, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017), Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, Án lệ số 09/2016/AL, các bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm và phúc thẩm giai đoạn 2021–2022, cùng các tài liệu khoa học, bài viết chuyên khảo trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Luật sư Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về hoạt động thương mại và bản chất pháp lý của quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán:
- Đặc điểm hoạt động thương mại: Hoạt động thương mại được thực hiện bởi thương nhân (khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, tổ chức kinh tế theo Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020), nhằm mục đích sinh lợi (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005), với các hình thức đa dạng gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại, logistics, gia công, giám định, đấu thầu, nhượng quyền thương mại... thực hiện trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.
- Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005:
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 353, 357, 468) quy định trách nhiệm trả lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền với mức lãi thỏa thuận tối đa không quá 20%/năm; trường hợp không có thỏa thuận cụ thể về mức lãi thì xác định bằng 50% mức trần (tức 10%/năm).
- Luật Thương mại năm 2005 (Điều 306) quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Mối quan hệ giữa hai đạo luật: Luật Thương mại năm 2005 là luật chuyên ngành (luật riêng) điều chỉnh quan hệ thương mại nên được ưu tiên áp dụng Điều 306 để tính lãi; Bộ luật Dân sự năm 2015 đóng vai trò là luật chung.
- So sánh quyền yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán với các chế tài thương mại khác: Tác giả so sánh chi tiết để chứng minh quyền yêu cầu trả lãi chậm thanh toán là một chế tài độc lập.
| Tiêu chí so sánh |
Quyền yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán (Điều 306 LTM 2005) |
Chế tài phạt vi phạm (Điều 300, 301 LTM 2005) |
Chế tài bồi thường thiệt hại (Điều 302, 303, 304 LTM 2005) |
| Mục đích chế tài |
Khôi phục, bù đắp lợi ích vật chất bị mất do việc chậm nhận tiền thanh toán. |
Răn đe, phòng ngừa vi phạm, giáo dục ý thức tuân thủ cam kết và trừng phạt bên vi phạm. |
Khôi phục toàn bộ tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. |
| Căn cứ phát sinh |
Có hành vi chậm thanh toán (tiền hàng, thù lao, chi phí hợp lý) và có yêu cầu của bên bị vi phạm; không bắt buộc phải có thỏa thuận trước trong hợp đồng. |
Phải có hành vi vi phạm hợp đồng và bắt buộc phải có thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng. |
Phải có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. |
| Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại |
Bên bị vi phạm không phải chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra. |
Không cần chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra. |
Bên yêu cầu bắt buộc phải chứng minh tổn thất thực tế theo Điều 304 Luật Thương mại năm 2005. |
| Mức áp dụng chế tài |
Tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán hoặc theo thỏa thuận. |
Do các bên thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (trừ giám định sai). |
Toàn bộ giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp bị bỏ lỡ. |
Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại
Chương 2 phân tích các quy định thực định, đánh giá thực tiễn xét xử và chỉ ra những hạn chế, bất cập cụ thể:
- Điều kiện áp dụng và khoản tiền phát sinh lãi: Điều kiện gồm hành vi chậm thanh toán và có yêu cầu từ bên bị vi phạm. Khoản tiền phát sinh lãi bao gồm: tiền hàng, thù lao dịch vụ, chi phí hợp lý khác và khoản tiền bên mua đã ứng trước nhưng bên bán không giao hàng đúng hợp đồng (theo tinh thần Án lệ số 09/2016/AL).
- Xác định mức lãi suất và thời gian tính lãi:
- Trước ngày xét xử sơ thẩm: Theo Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, Tòa án lấy mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất 03 ngân hàng thương mại (như Vietcombank, VietinBank, Agribank...) có trụ sở/chi nhánh tại địa phương nơi Tòa án xét xử tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm: Áp dụng Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Nếu có thỏa thuận trả lãi thì tính theo thỏa thuận nhưng không vượt quá quy định pháp luật; không thỏa thuận mức lãi thì tính theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (10%/năm). Nếu không thỏa thuận về việc trả lãi, tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án theo mức 10%/năm (Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015).
- Các hạn chế, bất cập pháp lý được nhận diện:
- Xung đột quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005: Mức lãi suất mặc định khi không thỏa thuận có sự sai khác (10%/năm theo Bộ luật Dân sự so với lãi suất nợ quá hạn trung bình theo Luật Thương mại). Luật Thương mại không giới hạn trần lãi suất thỏa thuận trong khi Bộ luật Dân sự giới hạn 20%/năm, dẫn tới vướng mắc khi xác định tính hợp pháp của mức lãi suất thương mại cao trên 20%/năm và ranh giới với tội cho vay lãi nặng (Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015).
- Quy định xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất 03 ngân hàng thương mại còn mang tính máy móc: Thị trường biến động liên tục; việc gửi văn bản yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin gặp khó khăn, chậm trễ; nhiều bản án không nêu rõ danh tính ngân hàng và mức lãi suất cụ thể của từng ngân hàng.
- Vướng mắc về quyền định đoạt của người bị vi phạm: Nhiều bản án lúng túng khi đương sự chủ động yêu cầu mức lãi suất thấp hơn mức luật định hoặc thấp hơn mức đã thỏa thuận nhằm tạo điều kiện cho bên vi phạm.
- Chưa rõ ràng về thời điểm bắt đầu tính lãi: Chưa thống nhất thời điểm tính từ ngày hết hạn nghĩa vụ thanh toán, ngày khởi kiện, ngày tuyên án, hay ngày gửi yêu cầu thanh toán mới.
- Bỏ sót khoảng thời gian chịu lãi sau xét xử sơ thẩm: Theo điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, đối với trường hợp không thỏa thuận về việc trả lãi, tiền lãi chỉ được tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, làm phát sinh khoảng trống không tính lãi từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến ngày nộp đơn yêu cầu thi hành án.
- Tranh cãi về việc áp dụng kết hợp các chế tài: Chưa có quy định tường minh về việc có được áp dụng đồng thời chế tài trả lãi do chậm thanh toán với phạt vi phạm hoặc với bồi thường thiệt hại hay không.
- Tổng hợp các vụ án thực tiễn phản ánh bất cập được phân tích trong khóa luận:
| Tên bản án / Vụ việc |
Tòa án xét xử |
Nội dung tranh chấp và phán quyết về lãi chậm thanh toán |
Vấn đề pháp lý bộc lộ |
| Bản án sơ thẩm 14/2021/KDTM-ST (04/06/2021) và Bản án phúc thẩm 12/2021/KDTM-PT (28/09/2021) |
TAND quận Hải Châu & TAND TP. Đà Nẵng |
Tranh chấp hợp đồng mua bán gỗ giữa Công ty T và Công ty Cổ phần G (V D N). Công ty T tạm ứng 6.000.000.000 đồng, V D N chỉ trả lại 1.000.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 357, 468 BLDS để tính lãi; cấp phúc thẩm sửa án, áp dụng Điều 306 LTM và chấp nhận mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu là 12,1%/năm (thấp hơn mức trung bình 3 ngân hàng là 12,75%/năm). |
Xung đột thẩm quyền áp dụng luật chung (BLDS) hay luật riêng (LTM); Tòa án chấp nhận quyền định đoạt yêu cầu mức lãi thấp hơn mức trung bình 3 ngân hàng. |
| Bản án sơ thẩm 04/2022/KDTM-ST (11/03/2022) |
TAND TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương |
Tranh chấp hợp đồng mua bán thiết bị đúc kim loại đồng và nguyên vật liệu. Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất phạt chậm thanh toán 12%/năm. Hội đồng xét xử chấp nhận do mức này thấp hơn mức quá hạn trung bình của Agribank, Vietcombank, VietinBank. |
Chấp nhận mức lãi suất yêu cầu thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình thực tế; quyết định tính lãi kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án. |
| Bản án sơ thẩm 03/2022/KDTM-ST (19/07/2022) |
TAND Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk |
Tranh chấp mua bán phân bón giữa Công ty X và Công ty M (nợ gốc 133 triệu đồng). Hợp đồng thỏa thuận lãi chậm thanh toán 2%/tháng, nhưng tại Tòa nguyên đơn giảm xuống yêu cầu 1,325%/tháng. Tòa án chấp nhận. |
Đương sự tự nguyện thay đổi yêu cầu mức lãi suất thấp hơn mức đã thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng và được Tòa án chấp nhận. |
| Bản án sơ thẩm 09/2022/KDTM-ST (24/01/2022) |
TAND quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh |
Hợp đồng phân phối bánh kẹo Thái Lan giữa Công ty A và Công ty K. Công ty A chuyển tạm ứng 630 triệu đồng, Công ty K trả lại 150 triệu, còn nợ 480 triệu. Đối với khoản 300 triệu chuyển ngày 30/07/2019, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi 1%/tháng từ ngày 29/08/2019 (thay vì ngày 02/08/2019). Tòa án chấp nhận. |
Thời điểm bắt đầu tính lãi được xác định theo thời điểm bên có quyền gửi văn bản yêu cầu muộn hơn thời điểm vi phạm thực tế. |
Chương 3: Những yêu cầu và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại
Chương 3 xây dựng các yêu cầu định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Yêu cầu hoàn thiện:
- Phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng và tôn trọng quyền tự do thỏa thuận hợp đồng của thương nhân.
- Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, thực hiện pháp điển hóa nhằm tránh mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại; tiến tới quy định thống nhất chế tài chậm thanh toán trong một văn bản luật chung là Bộ luật Dân sự.
- Đẩy mạnh công tác xây dựng và áp dụng án lệ tại Việt Nam (theo thống kê của tác giả tính đến tháng 10/2022, sau 7 năm thực hiện Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, Tòa án nhân dân tối cao mới công bố và lấy ý kiến 84 án lệ trên tổng số 1.375.000 bản án, quyết định được công bố, đạt tỷ lệ khiêm tốn khoảng 0,008%). Học tập kinh nghiệm công bố và phát triển án lệ từ các quốc gia như Pháp, Anh, Mỹ.
- Các đề xuất giải pháp cụ thể:
- Xác định mức lãi suất chậm thanh toán: Quy định rõ trần lãi suất đối với thỏa thuận trong thương mại; tiêu chuẩn hóa quy trình xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình của ngân hàng thương mại, ban hành hướng dẫn chi tiết để tránh việc Tòa án áp dụng cứng nhắc 03 ngân hàng chỉ định.
- Xác định thời điểm bắt đầu chịu lãi: Quy định rõ ràng ngày bắt đầu tính lãi là ngày tiếp theo của ngày hết hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hoặc từ thời điểm bên bị vi phạm xác lập văn bản yêu cầu thực hiện nghĩa vụ.
- Khoảng thời gian chịu lãi chậm thanh toán: Sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP theo hướng tính lãi liên tục từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong đối với mọi trường hợp, khắc phục triệt để khoảng trống pháp lý trước khi nộp đơn yêu cầu thi hành án.
- Ghi nhận quyền định đoạt của người bị vi phạm: Bổ sung quy phạm cho phép cơ quan tài phán chấp nhận yêu cầu của bên bị vi phạm khi họ tự nguyện áp dụng mức lãi suất thấp hơn quy định pháp luật hoặc thấp hơn mức thỏa thuận trong hợp đồng.
- Áp dụng kết hợp các biện pháp chế tài: Quy định rõ ràng nguyên tắc cho phép áp dụng đồng thời biện pháp trả lãi do chậm thanh toán với chế tài phạt vi phạm (do bản chất khác nhau) và với chế tài bồi thường thiệt hại (đối với các thiệt hại thực tế phát sinh ngoài khoản lãi chậm trả).
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Khái quát và làm rõ mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 trong việc điều chỉnh trách nhiệm trả lãi do chậm thanh toán, khẳng định đây là chế tài độc lập với phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
- Phân tích và chỉ rõ căn cứ phát sinh lãi chậm thanh toán áp dụng cho cả tiền hàng, thù lao dịch vụ, chi phí hợp lý và tiền tạm ứng trước mà bên bán không giao hàng theo Án lệ số 09/2016/AL.
- Nhận diện 06 bất cập lớn trong thực tiễn áp dụng: xung đột mức trần lãi suất giữa luật chung và luật riêng; khó khăn trong việc xác định lãi suất trung bình của 03 ngân hàng thương mại; vướng mắc về quyền định đoạt giảm lãi suất của đương sự; khoảng trống thời điểm tính lãi sau ngày xét xử sơ thẩm theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP; sự tùy nghi trong xác định ngày bắt đầu tính lãi; sự thiếu rõ ràng khi kết hợp cùng lúc nhiều chế tài.
- Cung cấp số liệu thực tế về tình hình phát triển án lệ tại Việt Nam (84 án lệ trên 1.375.000 bản án được công bố tính đến tháng 10/2022).
- Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Kiến nghị pháp điển hóa và quy định tập trung chế định chậm trả tiền vào Bộ luật Dân sự;
- Sửa đổi quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP để bảo đảm thời gian tính lãi liên tục từ sau ngày xét xử sơ thẩm;
- Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế kết hợp chế tài và công nhận quyền tự nguyện giảm mức lãi suất yêu cầu của bên bị vi phạm.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước:
Khóa luận đã cập nhật, hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật mới nhất sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, Luật Thương mại năm 2005 được sửa đổi (2017, 2019) và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP đi vào thực tiễn; phân tích trực tiếp các bản án xét xử thực tế trong giai đoạn 2021–2022 để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện có tính ứng dụng cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tranh chấp thương mại điển hình như mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ; chưa bao quát sâu các hợp đồng thương mại chuyên ngành phức tạp (như xây dựng, logistics quốc tế, tín dụng thương mại).
- Số lượng bản án thực tiễn được tiếp cận và phân tích chi tiết giới hạn tại Tòa án nhân dân một số địa phương (Đà Nẵng, Bình Dương, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mở rộng việc áp dụng chế tài chậm thanh toán trong các loại hình hợp đồng thương mại dịch vụ đặc thù và các giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Khảo sát toàn diện hơn thực tiễn giải quyết tranh chấp về lãi suất tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) và kinh nghiệm lập pháp của các nước thuộc khối ASEAN.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Pháp luật Kinh tế: Tài liệu chuyên khảo hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu các học phần Luật Hợp đồng, Luật Thương mại và Kỹ năng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
- Luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo các điều khoản thanh toán, điều khoản phạt vi phạm và lãi chậm trả trong hợp đồng thương mại, phòng ngừa rủi ro tranh chấp.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên: Nguồn tài liệu tham khảo trong việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật, Án lệ số 09/2016/AL và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP khi giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Bảng so sánh và luận điểm phân định giữa quyền yêu cầu trả lãi chậm thanh toán với chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại tại Chương 1.
- Phần phân tích 04 bản án thực tiễn và các xung đột pháp luật thực tế giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 với Luật Thương mại năm 2005 tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Khoản tiền nào làm phát sinh nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thanh toán theo Luật Thương mại năm 2005 và Án lệ số 09/2016/AL?
Theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và nội dung Án lệ số 09/2016/AL, khoản tiền phát sinh lãi do chậm thanh toán bao gồm: tiền mua hàng hóa, tiền thù lao dịch vụ, các chi phí hợp lý khác do bên bị vi phạm bỏ ra, và toàn bộ số tiền bên mua đã ứng trước nhưng bên bán không giao hàng đúng theo thỏa thuận hợp đồng.
2. Trước ngày xét xử sơ thẩm, Tòa án xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường như thế nào?
Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng thương mại (như Vietcombank, VietinBank, Agribank...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử tại thời điểm xét xử sơ thẩm để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Tòa án xử lý thế nào khi bên bị vi phạm tự nguyện yêu cầu mức lãi suất chậm thanh toán thấp hơn mức quy định hoặc mức đã thỏa thuận trong hợp đồng?
Thực tiễn xét xử (như Bản án số 12/2021/KDTM-PT tại Đà Nẵng, Bản án số 04/2022/KDTM-ST tại Bình Dương và Bản án số 03/2022/KDTM-ST tại Đắk Lắk) cho thấy các Tòa án đều chấp nhận yêu cầu của người có quyền khi họ yêu cầu mức lãi suất thấp hơn mức quy định của pháp luật hoặc thấp hơn mức đã thỏa thuận, do yêu cầu này xuất phát từ sự tự nguyện định đoạt và mang lại quyền lợi có lợi hơn cho bên vi phạm nghĩa vụ.
4. Điểm bất cập về khoảng thời gian chịu lãi chậm thanh toán sau khi xét xử sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP là gì?
Đối với các trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định tiền lãi chậm thi hành án chỉ được tính kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Quy định này dẫn đến việc bỏ sót khoảng thời gian bên vi phạm phải chịu lãi chậm trả tính từ thời điểm kết thúc phiên tòa sơ thẩm cho đến khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, gây thiệt hại quyền lợi cho bên bị vi phạm.
5. Điểm mâu thuẫn lớn nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 về mức lãi suất chậm trả là gì?
Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 357, 468) khống chế mức lãi suất thỏa thuận tối đa không quá 20%/năm và mức mặc định khi không thỏa thuận là 10%/năm; trong khi Luật Thương mại năm 2005 (Điều 306) cho phép thỏa thuận không giới hạn mức trần và mức mặc định được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất 03 ngân hàng thương mại tại địa phương, gây ra tình trạng lúng túng trong việc lựa chọn văn bản áp dụng khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Ngọc Huyền đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về việc trả lãi do chậm thanh toán trong hoạt động thương mại tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các điểm xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005, đồng thời phân tích cụ thể các bất cập qua thực tiễn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và số liệu áp dụng án lệ. Trên cơ sở đó, khóa luận đã đề xuất các giải pháp lập pháp xác đáng nhằm hoàn thiện cơ chế tính lãi, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.