CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ẮC QUY DÒNG OXY HÓA KHỬ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ắc quy dòng oxy hóa – khử Ắc quy dòng oxy hóa khử (RFB) đầu tiên dựa trên hệ phản ứng kẽm- halogen được phát minh vào thế kỷ 19 bởi Nhà khoa học Pháp, Charles Renard. Sau đó, nhà hóa học Kangro đề xuất khái niệm sử dụng cùng một nguyên tố có trạng thái oxy hóa khác nhau ở hai mặt của ắc quy vào năm 1949. Sự phát triển ban đầu của ắc quy dòng oxy hóa khử có quy mô đầy đủ bắt đầu vào những năm 1970. Bà Michelle Thaller đã phát minh ra ắc quy dòng oxy hóa khử sắt-crom đầu tiên vào năm 1974 tại Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Hoa Kỳ (NASA).
NASA đã tiến hành các nghiên cứu tiên phong về các khía cạnh kỹ thuật khác nhau của hệ thống ắc quy dòng chảy RFB, bao gồm phân tích tổn thất máy bơm, dòng điện, vật liệu điện cực và chi phí sản xuất ắc quy [1]. Hệ ắc quy sắt-crom được cấu tạo gồm cặp Cr 2+/Cr 3+ ở khoang anolit và cặp Fe 2+/Fe 3+ ở khoang catolit với axit clohydric làm chất điện dịch. Kết quả là điện áp mạch hở của ắc quy này là 1,0 V. Mặc dù hệ thống sắt-crom có thể hoạt động với các điện cực cacbon chi phí thấp, nhưng khả năng thuận nghịch của phản ứng oxy hóa khử Cr 2+/Cr 3+ lại thấp, quá trình giải phóng hydro quá mức và nhiễm bẩn chéo nghiêm trọng.
Do đó, nghiên cứu về hệ thống sắt-crom đã bị NASA ngừng vào năm 1984. Tuy nhiên, Phòng thí nghiệm Kỹ thuật Điện (ETL) ở Nhật Bản tiếp tục nghiên cứu về ắc quy sắt - crom và có thể cải thiện hiệu suất của nó bằng cách sửa đổi các điện cực nỉ để giảm sự giải phóng hydro bằng cách cho hoạt động với chất điện phân duy nhất, với một màng rẻ hơn và tái cân bằng hệ thống điều chỉnh trạng thái tích điện (SOC) trong hoạt động lâu dài của ắc quy. Một RFB sắt-crôm 60 kW được phát triển bởi Công ty Điện lực Kansai (KEPCO) và Công ty TNHH Sumitomo Electric Industries (Sumitomo Electric) vào năm 1989 [2]. Khái niệm sử dụng vanadi làm hoạt chất trong ắc quy dòng oxy hóa khử xuất hiện lần đầu tiên trong một bằng sáng chế của A.
Pelligri và PM Spaziante vào năm 1978. Tuy nhiên, ắc quy dòng oxy hóa khử vanadi (VRFB) đầu tiên được phát triển và trình diễn bởi Rychcik và Skyllas-Kazacos tại Đại học New South Wales vào năm 1980. Dòng VRFB này sử dụng bốn trạng thái oxy hóa khác nhau của vanadi trong dung dịch: điện cực âm sử dụng cặp oxy hóa khử V2+/V3+ và điện cực dương sử dụng cặp oxy hóa khử VO 2+/ VO2+ dẫn đến điện áp hở mạch tiêu chuẩn là 1,26 V. VRFB có một số ưu điểm hơn RFB sắt-crom.
Thứ nhất, VRFB không có vấn đề ô nhiễm chéo nghiêm trọng của RFB sắt-crom vì các loại vanadi được sử dụng trong cả hai tế bào bán phần. Trong trường hợp nhiễm chéo trong RFB vanadi-vanadi, dung dịch có thể được tái tạo đơn giản bằng cách sạc lại. Thứ hai, trong các hệ thống có chất hoạt động khác nhau như RFB sắt-crom, chất lỏng hỗn hợp phải được thay thế hoàn toàn hoặc loại bỏ để xử lý bên ngoài. Hơn nữa, quá trình giải phóng hydro ít xảy ra hơn nhiều ở điện GVHD: TS.Lê Thị Thu Hằng 1 SVTH: Trịnh Trần Thu Trang Đồ án chuyên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội cực âm trong VRFB do phản ứng oxi hóa khử V (II) / V (III) cao hơn so với phản ứng Cr 2+/ Cr3+.
Với thành công này, hầu hết các nhà nghiên cứu RFB chuyển sự chú ý của họ sang hệ thống vanadi-vanadi. Năm 1989, một phương pháp được phát triển bởi Kashima Kita Electric Power Corp và ETL để thu hồi vanadi từ dầu mỏ và nhiên liệu nặng. Với công nghệ này, một số công ty Nhật Bản đã có thể sản xuất VRFB quy mô lớn hơn như hệ thống 450 kW / 900 kWh vào năm 1996 và hệ thống 100 kW / 800 kWh vào năm 2000. Kể từ thời điểm đó, VRFB đã được một số công ty giới thiệu ra thị trường [2].
Mặc dù VRFB đã được thương mại hóa thành công và trải qua nhiều cải tiến đáng kể, mật độ năng lượng của chúng vẫn còn hạn chế do độ hòa tan vanadi thấp trong chất điện phân được sử dụng. Điều này đã hạn chế nghiêm trọng khả năng tồn tại của VRFB để đáp ứng các yêu cầu chi phí của hệ thống lưu trữ năng lượng quy mô lưới và do đó cũng cản trở sự thâm nhập của nó vào thị trường rộng lớn hơn. Do đó, một lượng lớn nghiên cứu đã được tập trung vào việc cải thiện hiệu suất của VRFB cũng như phát triển ắc quy dòng oxy hóa khử dựa trên các hóa chất khác và với các thiết kế khác nhau để cải thiện mật độ năng lượng và giảm chi phí sản xuất [2]. Xu hướng đầu tiên là thay thế nước bằng các dung môi hữu cơ để tạo ra các RFB không chứa nước, xu hướng khác là sử dụng các vật liệu hữu cơ hoạt tính oxy hóa khử hơn là cân bằng kim loại, nhằm mục đích tận dụng khả năng phản ứng hóa học, đa dạng về cấu trúc và có khả năng chi phí thấp hơn.
Đặc biệt là sau năm 2010, các khái niệm và cơ chế độc đáo của công nghệ ắc quy dòng chảy RFB đã thu hút rất nhiều sự quan tâm để phát triển. Ví dụ: Ắc quy dòng lithium-kim loại sử dụng cực dương là liti, nó được nối với catot bằng màng hoặc thiết bị phân tách - bộ tách bằng sứ khi sử dụng catot dạng nước. Các cặp oxy hóa khử bao gồm oxit kim loại, iốt, polysulfide, và các vật liệu hoạt động hữu cơ được sử dụng trong bể catot ở dạng không chứa nước hoặc dung dịch. Các khái niệm về ắc quy dòng chảy không có bơm hoặc không có màng dựa trên các cơ chế khác nhau cũng đã được báo cáo.
Gần đây hơn, ắc quy dòng quang hóa, trong đó chất xúc tác quang làm từ titan hoặc sắt được sử dụng để lưu trữ trực tiếp năng lượng mặt trời đã được nghiên cứu chuyên sâu. Ắc quy kim loại - không khí được coi là hệ thống lưu trữ năng lượng đầy hứa hẹn và thân thiện với môi trường cũng có thể được kết hợp với hệ thống dòng chảy [3] .Lê Thị Thu Hằng 2 SVTH: Trịnh Trần Thu Trang Đồ án chuyên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1. 1: Lịch sử phát triển của ắc quy dòng oxy hóa khử [3] 2 Ắc quy dòng oxy hóa –khử 1.1 Khái niệm Ắc quy dòng oxy hóa khử (RFB) là nguồn thứ cấp dựa trên các phản ứng điện hóa thuận nghịch trong điện dịch lỏng để chuyển đổi năng lượng điện thành năng lượng hóa học và ngược lại. Ngoài ra, RFB là một thiết bị dựa trên dòng chảy, phục vụ để lưu trữ và giải phóng năng lượng thông qua các quá trình sạc và xả tương ứng.
Trái ngược với ắc quy tĩnh thông thường, năng lượng được lưu trữ trong các điện dịch chứ không phải điện cực, điều này cho phép RFB hoạt động với tuổi thọ cao hơn với ít bảo trì hơn so với ắc quy thông thường. Do đó, RFB thường được gọi là tế bào nhiên liệu tái sinh, nơi điện năng được tạo ra từ việc chuyển đổi năng lượng được lưu trữ trong nhiên liệu đầu vào có chứa hai cặp oxy hóa khử hòa tan. Cấu trúc của ắc quy dòng oxy hóa khử được minh họa bằng sơ đồ sau: GVHD: TS.Lê Thị Thu Hằng 3 SVTH: Trịnh Trần Thu Trang Đồ án chuyên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1. 2: Sơ đồ cấu tạo một cell của RFB [3] Do tính linh hoạt của chúng, RFB có thể được sử dụng cho nhiều ứng dụng.
Đặc biệt, chúng có thể được thực hiện bổ sung cho một trang trại quang điện hoặc một tuabin gió. Thật vậy, chúng rất phù hợp để đệm các dao động năng lượng tái tạo vì việc sạc hoặc xả không liên tục không ảnh hưởng đáng kể đến tuổi thọ của ắc quy và thời gian phản hồi của RFB ngắn (thường ít hơn 1 giây). RFB cũng có thể được tích hợp trong mạng lưới microgrid, nơi chúng đóng vai trò giống nhau là lưu trữ lượng sản xuất dư thừa và cung cấp năng lượng khi mức tiêu thụ cao hơn mức sản xuất. RFB cũng đã được cài đặt làm hệ thống dự phòng (hoặc UPS), hoặc ở các khu vực hẻo lánh cho các trạm viễn thông.2 Nguyên lý hoạt động Ắc quy dòng oxy hóa khử (RFB) là nguồn thứ cấp, trong đó sự chuyển đổi năng lượng dựa trên phản ứng điện hóa thuận nghịch của hai cặp oxy hóa khử (A2+/A+ và C3+/C2+), như trình bày ở phương trình (1.1) các cặp oxy hóa khử thường ở dạng hòa tan trong dung dịch.
Phương trình xảy ra như sau: Nạp A2+ + C2+ A+ + C3+ (1.1) Phóng Trong hình 1.2 Một tế bào RFB bao gồm hai phần được kết nối với nhau thông qua các máy bơm: ngăn xếp ắc quy (nơi diễn ra các phản ứng điện hóa) và các thùng lưu trữ bên ngoài (nơi chứa các chất hoạt động điện cực).Lê Thị Thu Hằng 4 SVTH: Trịnh Trần Thu Trang Đồ án chuyên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội Trong quá trình hoạt động, các điện dịch được dẫn từ các thùng lưu trữ đến hai ngăn tế bào được ngăn cách bởi màng trao đổi ion, tại đây xảy ra sự trao đổi của các điện tử trên bề mặt điện cực và sau đó quay trở lại thùng. Như vậy, ắc quy được sạc hoặc xả dần trong khi các chất điện dich đang được chuyển đổi.3 Thành phần của ắc quy dòng oxy hóa khử Hình 1. 3: Các thành phần của RFB [2] Hình 1.3 Cho thấy một sơ đồ của các thành phần thường được sử dụng trong một ô của ắc quy dòng oxy hóa khử. Như hình hiển thị, một ô đơn của RFB thường bao gồm các tấm cuối (1,9), trường dòng (3,7), bộ thu dòng điện (2,8), điện cực âm và dương (4,6) được ngăn cách bởi một màng (5).
Hai điện dịch có chứa các chất nhiễm điện chảy qua mỗi ngăn của ắc quy tạo bởi giữa điện cực và màng. Nhiều ngăn xếp ô cũng có thể được sử dụng cho hệ thống RFB. Ngăn xếp ô được cấu tạo từ các điện cực lưỡng cực mắc nối tiếp hoặc song song (Hình 1. Tấm lưỡng cực đóng vai trò như một bộ thu dòng và hỗ trợ cơ học cho ngăn xếp đồng thời tăng cường luồng dòng điện giữa nhiều ô trong ngăn xếp.