Chương 1. Đấu thầu thuốc tại Việt Nam 1. Quy định hoạt động đấu thầu qua các giai đoạn Luật đấu thầu số 43 đã định nghĩa: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [24]. Việc mua thuốc sử dụng trong các cơ sở y tế sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và nguồn BHXH bắt buộc phải thực hiện đấu thầu.
Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp quy, hướng dẫn việc thực hiện công tác đấu thầu nói chung và đấu thầu mua sắm thuốc nói riêng. Văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc ngày càng được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian, sự thay đổi này cho ra những kết quả tích cực, công tác đấu thầu thuốc ngày càng trở nên minh bạch hơn, hiệu quả hơn và mang tính chất đặc thù hơn. Căn cứ vào các văn bản pháp quy, quá trình đấu thầu thuốc tại Việt Nam được chia làm 5 giai đoạn như sau: Luan van thac si 4 Bảng 1. Các giai đoạn đấu thầu thuốc Giai đoạn Căn cứ pháp lý về đấu thầu thuốc Giai đoạn 1: Chưa có Thông tư hướng dẫn nên cơ sở y tế thực hiện mua Trước năm 2005 sắm như hàng hóa sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
Giai đoạn 2: Từ năm Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; 2005 đến năm 2007 Luật sửa đổi số 38/2009/QH12; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009; Thông tư liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC. Giai đoạn 3: Từ năm Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; 2007 đến 01/6/2012 Luật sửa đổi số 38/2009/QH12; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009; Thông tư số 10/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 10/8/2007. Giai đoạn 4: Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Từ 01/6/2012 đến Luật sửa đổi số 38/2009/QH12; tháng 12/2013 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009; Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012; Thông tư số 11/2012/TT-BYT ngày 28/6/2012. Giai đoạn 5: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013; Từ 01/01/2014 đến Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014; nay Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012; Thông tư số 36/2013/TTLT-BYT-BTC ngày 11/11/2013; Thông tư số 37/2013/TT-BYT ngày 11/11/2013; Thông tư số 31/2014/TT-BYT ngày 26/9/2014.
Luan van thac si 5 Như vậy, nếu như trước năm 2005 chưa có văn bản chính thức quy định về đấu thầu thuốc thì trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 đã có 4 lần thay đổi hướng dẫn đấu thầu thuốc: Thông tư liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC là văn bản đầu tiên về hướng dẫn đấu thầu cung ứng thuốc. Việc lập hồ sơ mời thầu thực hiện theo quy định của các Nghị định do Chính phủ ban hành. Giá trúng thầu không được cao hơn giá gói thầu được phê duyệt và giá bán lẻ phổ biến trên thị trường cùng thời điểm đấu thầu. Phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu do Bộ trưởng (đối với cơ sở y tế công lập trực thuộc), Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh (đối với Sở y tế trên địa phương).
Việc phân cấp trong phê duyệt đã gây khó khăn cho các đơn vị thực hiện do phải chờ đợi lâu, mất thời gian. Giai đoạn này hướng dẫn đấu thầu còn sơ sài, việc thực hiện cũng chưa thống nhất, việc phê duyệt kết quả trúng thầu còn phụ thuộc, mất thời gian. Hơn nữa, quản lí giá chưa được đề cao nên giá thuốc trúng thầu mỗi nơi một giá. Thông tư số 10/2007/TTLT-BYT-BTC thay thế Thông tư số 20/2005/TTLT- BYT-BTC với quy định mới: phân quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cho thủ trưởng các cơ sở y tế công lập; gói thầu được chia ra làm gói thầu theo tên generic và gói thầu theo tên biệt dược kèm theo cụm từ “tương đương điều trị”.
Tuy đã giải quyết được cơ bản về vấn đề lựa chọn thuốc nhưng vẫn bộc lộ một số bất cập: chưa có tiêu chí xét thầu thống nhất, giá thuốc trúng thầu của một sản phẩm mỗi đơn vị một khác, giá thường cao hơn giá thị trường, chưa có ưu tiên rõ ràng đối với thuốc sản xuất trong nước, khó khăn khi duyệt giá kế hoạch do công bố giá của các mặt hàng chưa kịp thời. Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC thay thế Thông tư số 10/2007/TTLT- BYT-BTC đã quy định phân chia gói thầu thuốc trong đó gói thầu thuốc theo tên generic chia thành 4 nhóm (theo Phụ lục 1); quy định mỗi nhóm chỉ chọn một mặt hàng có giá thấp nhất nên bệnh viện không thể chọn những mặt hàng đã dùng lâu, có uy tín trong điều trị, dải lựa chọn thuốc bị thu hẹp dẫn đến việc sử dụng thuốc biệt Luan van thac si 6 dược gốc tăng đột biến, gây khó khăn cho công tác cung ứng thuốc. Đồng thời, Bộ y tế đã ban hành Thông tư số 11/2012/TT-BYT Hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế, Thông tư này đã giúp các đơn vị thống nhất trong xây dựng hồ sơ mời thầu, thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu, có cơ sở để chấm điểm các nhà thầu khi xét thầu. Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế.
Thông tư này có sự phân chia lại nhóm, khắc phục hạn chế về chia nhóm trong Thông tư số 01, nhưng về khía cạnh chất lượng điều trị của thuốc trúng thầu vẫn còn nhiều bất cập. Đồng thời ngày 11 tháng 11 năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 37/2013/TT-BYT Hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế thay thế Thông tư số 11/2012/TT-BYT. Đặc biệt, nếu như Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 cho đến Luật sửa đổi số 38/2009/QH12 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản) chưa có quy định riêng để cụ thể hóa về đấu thầu thuốc thì Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 đã có mục riêng (Mục 3, Chương 5) quy định về việc mua thuốc, vật tư y tế sử dụng nguồn vốn nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế và nguồn thu hợp pháp khác của các cơ sở y tế. Ngày 26 tháng 9 năm 2014, Bộ Y tế ban hành Thông tư 31/2014/TT-BYT Quy định bảng tiêu chuẩn đánh giá về mặt kĩ thuật tại hồ sơ mời thầu mua thuốc.
Giai đoạn này các đơn vị phải thực hiện theo Luật đấu thầu số 43, Nghị định 63/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hiện có nhưng không được trái Luật. Điều này thể hiện rõ sự quan tâm của Quốc hội và Chính phủ đến vấn đề đấu thầu thuốc trong giai đoạn hiện nay. Tuy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong đảm bảo cung ứng thuốc tại các cơ sở y tế nhưng những bất cập trong quản lí vẫn là bài toán chưa có lời giải, đáp ứng mong muốn của các đơn vị thực hiện đấu thầu. Luan van thac si 7 1.
Một số yếu tố liên quan và ảnh hưởng đến hoạt động đấu thầu thuốc Trong hoạt động đấu thầu mua thuốc, qua thực tế cho thấy có nhiều yếu tố liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đấu thầu. Nắm bắt được những yếu tố này để tổ chức hoạt động đấu thầu có hiệu quả cao nhất, tránh sai sót có thể gặp trong đấu thầu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Đây là yếu tố liên quan, quyết định phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện đấu thầu. Hệ thống Thông tư hướng dẫn liên tục thay đổi gây khó khăn cho việc thực hiện. Đấu thầu thuốc nói chung là phục vụ công tác khám và điều trị cho bệnh nhân có BHYT, thời gian qua các văn bản liên quan đến BHYT cũng thay đổi từ Luật BHYT, Luật khám chữa bệnh đến các Thông tư liên quan như Thông tư ban hành danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán; điều này tác động đến việc xác định nhu cầu thuốc, xây dựng kế hoạch đấu thầu,… Mô hình bệnh tật, sự phát triển của khoa học-kĩ thuật trong chẩn đoán, điều trị: Cùng với sự phát triển của xã hội, thay đổi của môi trường sống kéo theo sự thay đổi của mô hình bệnh tật, nhu cầu thuốc.
Mặt khác, trên đà phát triển của khoa học-kĩ thuật y học, nhiều thuốc mới được phát minh dẫn đến yêu cầu cao hơn trong dùng thuốc phục vụ khám và điều trị; nhiều thuốc lạc hậu không còn nhu cầu sử dụng đã tác động lớn đến việc xây dựng danh mục thuốc, lựa chọn thuốc trúng thầu, mua thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh. Việc tổ chức thực hiện đấu thầu tùy theo từng đơn vị nhưng có những ảnh hưởng chính sau: Cơ quan quản lí Nhà nước (Bộ y tế, sở y tế): Cơ quan thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu hoặc trực tiếp tổ chức đấu thầu (Sở y tế) chưa chuyên nghiệp. Việc chậm trễ trong quy trình đấu thầu, nhất là thủ tục thẩm định, phê duyệt chậm là vấn đề thường gặp dẫn đến thiếu thuốc. Luan van thac si 8 Chủ đầu tư (các bệnh viện, sở y tế): Việc triển khai chưa khoa học, còn nhiều lúng túng dẫn đến kết quả đấu thầu chưa đúng, còn chậm, giá thuốc trúng thầu còn khác nhau giữa các đơn vị.
Nhân lực, tổ chức tham gia hoạt động đấu thầu: Theo quy định, tất cả các thành viên tham gia hoạt động đấu thầu đều phải có chứng chỉ đã qua tập huấn về đấu thầu thuốc. Trình độ đội ngũ tham gia quá trình đấu thầu chưa cao do đều là kiêm nhiệm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đấu thầu: Nhiều đơn vị chưa xây dựng được phần mềm đấu thầu, vẫn tổ chức xét thầu theo kiểu thủ công dẫn đến mất thời gian, sự chính xác, tính minh bạch không cao. Các nhà thầu là những người trực tiếp tham gia quá trình thầu, các nhà thầu thuộc các công ty đa quốc gia, công ty lớn thường có đội ngũ làm thầu chuyên nghiệp, có nhiều kinh nghiệm, hồ sơ thầu của những đơn vị này thường đáp ứng yêu cầu hồ sơ mời thầu.
Các đơn vị tư nhân, đơn vị nhỏ thường chưa có kinh nghiệm, chưa có đội ngũ làm thầu chuyên nghiệp, hồ sơ dự thầu thường hay thiếu sót dẫn đến hồ sơ bị loại. Hiệp định TPP 1. Định nghĩa, mục tiêu 1. Định nghĩa TPP viết tắt của cụm từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement trong tiếng Anh, tức là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương.