Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam đang diễn biến hết sức phức tạp dưới áp lực gia tăng của quá trình công nghiệp hóa. Theo báo cáo từ Unicef, Việt Nam đứng trong nhóm 5 quốc gia có lượng nước thải và chất thải xả trực tiếp ra môi trường nước nhiều nhất thế giới. Số liệu thống kê từ Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, trung bình mỗi năm có khoảng 9.000 trường hợp tử vong do tiếp xúc nguồn nước ô nhiễm và gần 200.000 ca ung thư mới phát hiện có liên quan mật thiết đến độc tố hữu cơ và kim loại nặng. Trong dòng thải công nghiệp dệt may, thuốc nhuộm tồn dư là nhóm chất độc hại hàng đầu do cấu trúc phân tử bền vững, khó phân hủy sinh học. Hai hợp chất màu tiêu biểu thường gặp gồm Phenol Red với khối lượng phân tử 354,38 g/mol và Disperse Red 152 với khối lượng phân tử 463,45 g/mol, kích thước hạt dao động từ 1,6 đến 2,0 nm.

Để giải quyết vấn đề cấp bách này, đề tài tập trung chế tạo hệ vật liệu quang xúc tác dị thể nanocomposite x%GO-Bi2WO6 (với tỷ lệ x lần lượt bằng 0, 3 và 5% khối lượng) nhằm phân hủy triệt để Phenol Red và Disperse Red 152 ở nồng độ ô nhiễm cao 50 ppm dưới ánh sáng khả kiến. Toàn bộ quy trình thực nghiệm được triển khai từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025 tại Phòng thí nghiệm Phân tích Môi trường, Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, tận dụng nguồn than cốc địa phương tại mỏ Phấn Mễ, Thái Nguyên để chế tạo graphene oxide. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi phát triển thành công giải pháp xúc tác xanh, chi phí thấp, đạt tỷ lệ tương đồng học thuật theo Turnitin chỉ 8% và nâng hiệu suất khử màu thuốc nhuộm vượt trên 92% khi kết hợp tác nhân hydro peroxit 30%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa thuyết quang xúc tác dị thể bán dẫn và thuyết chuyển dời điện tích trên bề mặt phân chia pha giữa vật liệu bán dẫn với vật liệu carbon cấu trúc nano 2D.

Mô hình nghiên cứu tập trung vào hệ tiếp xúc dị thể giữa bismuth tungstate (Bi2WO6) và graphene oxide (GO). Bi2WO6 là chất bán dẫn cấu trúc Aurivillius phân lớp với năng lượng vùng cấm khoảng 2,8 eV, cho phép hấp thụ photon trong vùng ánh sáng nhìn thấy có bước sóng từ 390 đến 580 nm. Graphene oxide đóng vai trò giá đỡ dẫn truyền electron với năng lượng vùng cấm biến thiên từ 2,1 đến 3,3 eV, sở hữu mạng liên hợp pi mở rộng và mật độ nhóm chức chứa oxy phong phú ở các cạnh.

Năm khái niệm cốt lõi làm nền tảng cho luận văn bao gồm:

  1. Xúc tác quang dị thể: Quá trình chuyển hóa quang năng thành hóa năng để phá vỡ các liên kết hóa học của chất ô nhiễm trên bề mặt tiếp xúc rắn - lỏng.
  2. Cặp hạt tải điện electron - lỗ trống: Cặp điện tích sinh ra khi bán dẫn hấp thụ năng lượng kích thích lớn hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm.
  3. Gốc oxy hóa hoạt tính ROS: Các tiểu phân trung gian hoạt tính cao như gốc hydroxyl (•OH) và gốc superoxide (•O2-) có khả năng oxy hóa không chọn lọc các phân tử hữu cơ.
  4. Tương tác xếp chồng pi - pi: Cơ chế liên kết tĩnh điện và liên hợp giữa khung carbon phẳng của GO với các vòng benzen thơm của phẩm màu Phenol Red và Disperse Red 152.
  5. Sự dịch chuyển điện tử liên pha: Quá trình chuyển điện tử nhanh chóng từ dải dẫn của Bi2WO6 sang phiến GO nhằm kéo dài tuổi thọ của lỗ trống quang sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 3 hệ vật liệu đại diện với hàm lượng GO thay đổi từ 0%, 3% đến 5% khối lượng, được điều chế từ 0,02 mol Bi(NO3)3.5H2O và 0,01 mol Na2WO4. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thực nghiệm kiểm soát theo tỷ lệ nồng độ pha tạp xác định nhằm đối chiếu chính xác sự biến đổi tính chất quang lý.

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp phân tích hóa lý hiện đại nhằm làm sáng tỏ toàn diện cấu trúc và hoạt tính:

  • Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) trong dải sóng 400 đến 4000 cm⁻¹ và phổ tán xạ Raman phân tích các nhóm chức bề mặt và độ trật tự mạng tinh thể.
  • Nhiễu xạ tia X (XRD D8 Advance, tốc độ quét 4°/phút, bước nhảy 0,02°) nhằm xác định pha tinh thể trực thoi orthorhombic và kích thước tinh thể trung bình theo phương trình Scherrer.
  • Kính hiển vi điện tử quét SEM và truyền qua TEM xác thực hình thái vi cấu trúc nano và sự liên kết không gian giữa các hạt nano Bi2WO6 trên phiến lá GO.
  • Phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt nitơ BET (NOVA touch 4LX) đo diện tích bề mặt riêng và thể tích mao quản.
  • Phổ phản xạ khuếch tán UV-Vis-DRS và phổ huỳnh quang quang phát quang (PL tại bước sóng kích thích 220 nm) đo đạc độ rộng vùng cấm và tốc độ tái tổ hợp điện tích.
  • Phổ hấp thụ tử ngoại - khả kiến UV-Vis (Hitachi UV-1700) đo độ suy giảm nồng độ thuốc nhuộm tại bước sóng cực đại 430 nm đối với Phenol Red và 528 nm đối với Disperse Red 152.

Timeline thực nghiệm kéo dài 8 tháng. Quá trình xử lý gồm 75 phút hấp phụ trong buồng tối nhằm đạt cân bằng hấp phụ - giải hấp, tiếp nối bởi giai đoạn chiếu xạ quang hóa dưới đèn xenon công suất 55W với chu kỳ lấy mẫu phân tích định kỳ 30 phút một lần kéo dài đến 210 phút.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích phổ FT-IR xác nhận sự hình thành liên kết vững chắc giữa GO và Bi2WO6. Phổ của GO thể hiện các đỉnh hấp thụ đặc trưng tại 1712,48 cm⁻¹ (dao động kéo giãn C=O), 1631,48 cm⁻¹ (liên kết C=C), 1054,23 cm⁻¹ (nhóm C-O) và 1384,64 cm⁻¹ (biến dạng O-H). Trên phổ nanocomposite 5%GO-Bi2WO6 xuất hiện đồng thời các đỉnh dao động Bi-O-Bi bất đối xứng tại 578,54 cm⁻¹ cùng dao động W-O và Bi-O tại 736,67 cm⁻¹ và 817,67 cm⁻¹. Đỉnh liên kết C=C và C-O bị dịch chuyển đỏ về phía số sóng thấp hơn, chứng minh mật độ điện tử của mạng GO đã liên hợp hiệu quả với nền Bi2WO6.

Thứ hai, vật liệu 5%GO-Bi2WO6 mang lại hiệu suất quang phân hủy vượt bậc so với mẫu Bi2WO6 nguyên bản. Nhờ sự có mặt của 5% GO, diện tích bề mặt riêng của vật liệu tăng đáng kể, đồng thời cường độ phổ phát quang PL giảm mạnh so với mẫu 0% GO. Điều này khẳng định quá trình tái tổ hợp giữa electron và lỗ trống quang sinh đã bị ức chế triệt để, giúp tốc độ phản ứng quang hóa đối với dung dịch Phenol Red 50 ppm tăng hơn 2,4 lần.

Thứ ba, sự hiện diện của 0,2 mL dung dịch H2O2 nồng độ 30% đóng vai trò chất bẫy electron vượt trội. Trong điều kiện chiếu xạ đèn xenon 55W suốt 210 phút, mẫu 5%GO-Bi2WO6 kết hợp H2O2 đạt hiệu suất phân hủy Phenol Red 50 ppm lên tới 92,3%, và đạt 95,1% đối với Disperse Red 152 nồng độ 50 ppm. Tỷ lệ này cao hơn 35% so với hệ quang xúc tác không bổ sung tác nhân oxy hóa H2O2.

Thứ tư, vật liệu thể hiện tính bền hóa lý và khả năng tái sử dụng xuất sắc. Sau 4 chu kỳ thu hồi và tái sử dụng liên tục (mỗi chu kỳ kéo dài 210 phút), hiệu suất quang xúc tác phân hủy phẩm nhuộm của mẫu 5%GO-Bi2WO6 vẫn duy trì ổn định trên 85%, mức suy giảm hiệu năng sau 4 chu kỳ chỉ dao động dưới 7,3%. Giản đồ XRD trước và sau 4 lần phản ứng không xuất hiện bất kỳ pha tinh thể lạ nào, bảo toàn nguyên vẹn cấu trúc tinh thể ban đầu.

Thảo luận kết quả

Cơ chế nâng cao hoạt tính quang xúc tác được giải thích thông qua sự phối hợp đồng bộ giữa cấu trúc phân lớp và hiệu ứng chuyển điện tử. Khi hấp thụ photon từ đèn xenon 55W, Bi2WO6 kích hoạt các electron nhảy từ dải hóa trị lên dải dẫn. Nhờ thế dẫn truyền thuận lợi, các electron quang sinh lập tức di chuyển sang phiến graphene oxide liền kề. Tại đây, GO hoạt động như bể chứa điện tử, ngăn cản electron quay trở lại tái tổ hợp với lỗ trống h+. Khi có mặt 0,2 mL H2O2 30%, các electron trên GO nhanh chóng phản ứng để tạo ra lượng lớn gốc hydroxyl tự do (•OH). Kết quả từ các thí nghiệm sử dụng chất ức chế gồm KI, cồn isopropyl (IPA) và EDTA nồng độ 10⁻² M đã khẳng định gốc •OH và lỗ trống h+ là hai tác nhân oxy hóa chủ đạo phá vỡ hoàn toàn cấu trúc mạch vòng của thuốc nhuộm.

So sánh với các công bố khoa học quốc tế, hiệu suất phân hủy của hệ 5%GO-Bi2WO6 trong luận văn này vượt trội rõ rệt. Nghiên cứu của Jiali Zhai năm 2020 trên vật liệu GO/Bi2WO6 chỉ đạt hiệu suất phân hủy 46% đối với Rhodamine B sau 120 phút. Hệ vật liệu của đề tài đã giải quyết thành công phẩm màu azo Disperse Red 152 có khối lượng mol lớn 463,45 g/mol, vốn rất trơ về mặt hóa học.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu thực nghiệm phân hủy thuốc nhuộm theo thời gian được mô tả trực quan qua biểu đồ đường cong suy giảm tỷ lệ nồng độ C/C0 và đồ thị động học phản ứng giả bậc nhất ln(C0/C) theo thời gian. Sự tiêu biến màu sắc được minh họa thuyết phục qua chuỗi phổ UV-Vis quét liên tục từ bước sóng 200 đến 800 nm, cho thấy đỉnh hấp thụ tại 430 nm và 528 nm giảm dần về 0. Bên cạnh đó, các bảng thông số động học hấp phụ bậc 1, bậc 2, Elovich và các chỉ số diện tích bề mặt BET cung cấp định lượng cụ thể về sự tối ưu hóa của tỷ lệ 5% GO.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng thực tế cao:

Thứ nhất, mở rộng quy mô tổng hợp vật liệu nanocomposite GO-Bi2WO6 từ mẻ thí nghiệm 10 g lên quy mô pilot 2 đến 5 kg/ngày. Quy trình cần chuẩn hóa kỹ thuật thủy nhiệt hỗ trợ sóng siêu âm 37 kHz ở 200°C trong 15 giờ nhằm hạ giá thành chế tạo xuống dưới 350.000 VNĐ/kg bột xúc tác, giao Viện Hóa học phối hợp với Đại học Sư phạm Thái Nguyên hoàn thiện trong giai đoạn 2026 - 2027.

Thứ hai, tích hợp bột xúc tác 5%GO-Bi2WO6 vào module phản ứng quang hóa dạng dòng chảy liên tục kết hợp đèn LED tiết kiệm điện năng cho các trạm xử lý nước thải dệt nhuộm công nghiệp. Mục tiêu kỹ thuật đặt ra là khử màu đạt 98% và giảm chỉ số COD trên 80% đối với lưu lượng dòng thải 50 m³/ngày, do các doanh nghiệp may mặc tại Thái Nguyên và Nam Định chủ trì vận hành thử nghiệm từ quý 3 năm 2026 đến quý 4 năm 2027.

Thứ ba, thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm soát nồng độ tồn dư của tác nhân H2O2 và lượng thôi nhiễm ion kim loại Bi, W trong nước sau xử lý. Chỉ tiêu đặt ra là nồng độ hòa tan của bismuth và wolfram phải luôn duy trì dưới ngưỡng 0,05 mg/L theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT, do Trung tâm Quan trắc Môi trường địa phương giám sát định kỳ hàng tháng từ năm 2026.

Thứ tư, xây dựng chuỗi cung ứng tận dụng nguồn than cốc mỏ Phấn Mễ nhằm chủ động nguồn vật liệu carbon điều chế graphene oxide chất lượng cao. Động thái này giúp giảm 30% chi phí nhập khẩu nguyên liệu và cắt giảm 25% lượng phát thải hóa chất trong chế tạo vật liệu nano, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên định hướng phê duyệt và cấp vốn triển khai trong 24 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Bản luận văn là tài liệu chuyên khảo giàu giá trị khoa học cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Hóa học Vô cơ, Hóa Môi trường và Khoa học Vật liệu: Nắm bắt tường tận quy trình công nghệ thủy nhiệt kết hợp sóng siêu âm tần số 37 kHz, kỹ thuật phân tích phổ FT-IR, XRD, Raman, BET và các mô hình động học hấp phụ. Trường hợp sử dụng tiêu biểu là phát triển đề cương nghiên cứu về vật liệu dị thể quang xúc tác trên nền carbon nano.

  2. Kỹ sư vận hành hệ thống xử lý nước thải tại các nhà máy dệt may và hóa chất: Khai thác giải pháp oxy hóa nâng cao AOPs kết hợp nanocomposite 5%GO-Bi2WO6 và H2O2 nồng độ 30% để khử triệt để các loại thuốc nhuộm nồng độ cao 50 ppm. Trường hợp sử dụng tiêu biểu là cải tạo công đoạn xử lý màu khó phân hủy trong các hồ sinh học công nghiệp.

  3. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu lọc nước và công nghệ nano môi trường: Đánh giá tiềm năng thương mại hóa dòng xúc tác nanocomposite ổn định cao sau 4 chu kỳ tái sinh, tận dụng nguồn khoáng sản than nội địa. Trường hợp sử dụng tiêu biểu là chế tạo màng lọc nano phủ xúc tác quang hoặc hạt vật liệu lọc đa năng cho hệ thống lọc nước tuần hoàn.

  4. Chuyên viên quản lý môi trường và cơ quan hoạch định chính sách tài nguyên: Thu thập dữ liệu thực nghiệm xác thực về mức độ nguy hại của các phẩm nhuộm hữu cơ nhóm phthalein và azoic đối với hệ sinh thái nguồn nước. Trường hợp sử dụng tiêu biểu là xây dựng hướng dẫn kỹ thuật áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến cho các làng nghề dệt nhuộm truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Nanocomposite 5%GO-Bi2WO6 có ưu điểm gì vượt trội so với Bi2WO6 nguyên bản? Vật liệu 5%GO-Bi2WO6 khắc phục triệt để nhược điểm tái tổ hợp điện tích nhanh của Bi2WO6 nguyên chất. Khi kết hợp 5% GO, diện tích bề mặt riêng của xúc tác gia tăng rõ rệt, đồng thời mạng carbon dẫn điện giúp thu gom electron quang sinh nhanh chóng. Nhờ đó, tốc độ quang phân hủy thuốc nhuộm tăng gấp 2,4 lần so với mẫu không chứa graphene oxide.

Tại sao việc bổ sung 0,2 mL H2O2 30% lại gia tăng mạnh mẽ hiệu suất quang phân hủy? Hydro peroxit hoạt động như một chất bẫy electron cực kỳ hiệu quả trên bề mặt pha dị thể. Khi tiếp nhận electron quang sinh từ dải dẫn của Bi2WO6 và phiến GO, H2O2 chuyển hóa tức thì thành các gốc hydroxyl tự do (•OH). Lượng gốc •OH dồi dào này trực tiếp tấn công, cắt đứt các mạch liên hợp vòng thơm của thuốc nhuộm nồng độ 50 ppm.

Nguồn than cốc mỏ Phấn Mễ có đảm bảo chất lượng để chế tạo graphene oxide không? Nguồn than cốc khai thác tại mỏ Phấn Mễ, Thái Nguyên có hàm lượng carbon cao và cấu trúc graphit hóa phù hợp. Khi ứng dụng phương pháp Hummers cải tiến kết hợp rung siêu âm 37 kHz, sản phẩm GO thu được đạt độ oxy hóa tối ưu với đầy đủ các nhóm chức C=O và C-O, hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế.

Khả năng thu hồi và tái sử dụng của vật liệu 5%GO-Bi2WO6 trong thực tế ra sao? Vật liệu có khả năng lắng và tách pha cơ học nhanh chóng sau phản ứng bằng phương pháp ly tâm ở tốc độ 3000 vòng/phút. Sau 4 chu kỳ tái sử dụng liên tục (mỗi chu kỳ kéo dài 210 phút), hiệu suất quang xúc tác phân hủy phẩm màu của nanocomposite vẫn đạt trên 85%, cấu trúc tinh thể trực thoi được bảo toàn nguyên vẹn.

Hệ xúc tác này có xử lý được các hợp chất ô nhiễm khác ngoài thuốc nhuộm dệt may không? Nhờ cơ chế tạo gốc tự do oxy hóa không chọn lọc (•OH và •O2-), hệ nanocomposite GO-Bi2WO6 hoàn toàn có khả năng xử lý hiệu quả các chất kháng sinh khó phân hủy như tetracycline hay ciprofloxacin ở nồng độ từ 20 đến 50 ppm, mở rộng phạm vi ứng dụng trong xử lý nước thải y tế và dược phẩm.

Kết luận

  • Chế tạo thành công hệ vật liệu quang xúc tác nanocomposite x%GO-Bi2WO6 từ nguồn than cốc địa phương mỏ Phấn Mễ bằng kỹ thuật thủy nhiệt ở 200°C trong 15 giờ hỗ trợ siêu âm 37 kHz.
  • Xác thực đầy đủ cấu trúc tinh thể trực thoi orthorhombic và liên kết hóa học đặc trưng với các dải phổ FT-IR tại 1712,48 cm⁻¹ (C=O), 578,54 cm⁻¹ (Bi-O-Bi) và 736,67 cm⁻¹ (W-O).
  • Tỷ lệ 5% GO đem lại hoạt tính quang xúc tác tối ưu, nâng hiệu suất phân hủy Phenol Red 50 ppm lên 92,3% và Disperse Red 152 50 ppm lên 95,1% sau 210 phút chiếu xạ khi có mặt 0,2 mL H2O2 30%.
  • Vật liệu khẳng định độ bền cấu trúc vượt trội và khả năng tái sinh cao, duy trì hiệu suất quang phân hủy trên 85% sau 4 chu kỳ phản ứng liên tục mà không thay đổi pha tinh thể.
  • Xác lập rõ ràng cơ chế quang hóa dựa trên sự dịch chuyển điện tử ức chế tái tổ hợp e-/h+ và vai trò oxy hóa chủ đạo của các gốc hydroxyl tự do và lỗ trống quang sinh.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là làm chủ quy trình công nghệ xanh chế tạo vật liệu nano dị thể hiệu năng cao từ nguồn khoáng sản bản địa, giải quyết triệt để bài toán xử lý chất màu hữu cơ độc hại.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2026 đến năm 2027, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành hoàn thiện thiết kế module xử lý pilot dòng liên tục trên nền nước thải dệt nhuộm thực địa tại các khu công nghiệp miền Bắc.

Các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp dệt may và đối tác công nghệ môi trường quan tâm xin vui lòng liên hệ trực tiếp với Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên để tiếp nhận chuyển giao quy trình và phối hợp thử nghiệm thực tế.