BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ---------------------------------------- NGUYỄN VĂN TƯƠNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG LÀM VIỆC CỦA LIÊN HỢP MÁY KÉO SHIBAURA SD 2843 VỚI THIẾT BỊ TỜI CÁP, CẦN TREO KHI VẬN XUẤT GỖ RỪNG TRỒNG Chuyên ngành: Máy và thiết bị cơ giới hóa nông -lâm nghiệp Mã số: 60 52 14 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Hà Nội, năm 2010 c Luận văn được hoàn thành tại: KHOA SAU ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN THÁI Phản biện 1: TS. Lê Sỹ Hùng Phản biện 2: TS. Nguyễn Văn Quân Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật , họp tại trường Đại học Lâm nghiệp Vào hồi 10 h 30 , ngày 4 tháng 12 năm 2010 Có thể tìm luận văn tại Thư viện trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, năm 2010 c 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta vốn là một đất nước có tài nguyên rừng phong phú, đa dạng với nhiều loại cây, gỗ và lâm sản có giá trị cao. Từ lâu rừng đã gắn liền với cuộc sống của hàng chục triệu người dân, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môi trường, cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng các yêu cầu văn hoá thẩm mỹ của con người sẽ ngày càng tăng lên. Do nhiều nguyên nhân khác nhau về thời tiết khí hậu, đất đai bị ô nhiễm, do sức ép về nhu cầu của con người đã tác động xấu đến rừng, làm cho rừng nước ta ngày càng suy giảm. Nhận thức đúng đắn những hậu quả to lớn, nhiều mặt do sự tàn phá rừng gây ra, cũng như tầm quan trọng của rừng đối với các lĩnh vực: Kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng. Đảng và nhà nước ta đã rất quan tâm, khuyến khích hỗ trợ nhiều dự án trồng rừng nhằm mục đích khôi phục và phát triển rừng. Đặc biệt tại kỳ họp thứ 2 quốc hội khoá x đã đưa ra nghị quyết về dự án trồng mới 5 triệu ha rừng . Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được mở ra với qui mô rộng lớn nhằm gây trồng 3 loại rừng chính là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Thúc đẩy phát triển rừng là xu thế tất yếu của xã hội để góp phần duy trì sự sống trên trái đất và để đáp ứng nhu cầu về lâm sản cho xã hội ngày càng cao. Vai trò của rừng trồng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về gỗ cho nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, gỗ và củi chủ yếu được lấy ra từ rừng trồng. Rừng trồng ở nhiều nơi đang được khai thác với số lượng lớn để làm nguyên liệu giấy, làm gỗ trụ mỏ, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và các nghành kinh tế khác. Đặc điểm của rừng trồng là phân tán, trữ lượng ít, đường xá nhỏ hẹp, địa hình dốc lớn và không đồng đều, khai thác không đại trà (chặt đan xen từng vùng để đảm bảo môi trường bền vững), điều kiện áp dụng cơ giới hoá cho khâu khai thác có những khó khăn nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu, lựa chọn sử c 2 dụng các loai máy móc, thiết bị phù hợp để vận xuất gỗ rừng trồng là vấn đề cần thiết. Trong những năm gần đây ở nước ta, các máy kéo cỡ nhỏ được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông lâm nghiệp, đó là các loại máy kéo shibaura - SD 2843, MTZ - 80, DFH - 18, máy kéo bông sen - 12…Trên cơ sở tận dụng nguồn động lực sẵn có trong sản xuất nông lâm nghiệp như hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu thiết kế thiết bị chuyên dùng, dùng nguồn động lực để vận chuyển, vận xuất gỗ rừng trồng. Là khâu công việc rất nặng nhọc và nguy hiểm trong dây chuyền công nghệ khai thác gỗ. Một trong số các đề tài đã nghiên cứu và thử nghiệm thành công thiết bị lâm nghiệp chuyên dùng đó là liên hợp máy kéo shibaura - SD 2843 với thiết bị tời, cáp - cần treo gỗ khi vận xuất gỗ rừng trồng. Để có cơ sở hoàn thiện thêm về mặt kết cấu và chọn chế độ làm việc hợp lý cần phải nghiên cứu thêm về khả năng làm việc của liên hợp máy kéo trên đường vận xuất gỗ. Với những lý do trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng làm việc của liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 với thiết bị tời, cáp – cần treo gỗ khi vận xuất gỗ rừng trồng”. * Ý nghĩa khoa học của đề tài Nghiên cứu một số thông số động lực học của liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 với thiết bị tời, cáp – cần treo gỗ khi vận xuất gỗ rừng trồng góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc tính toán thiết kế cải tiến hoàn thiện mẫu máy và lựa chọn chế độ sử dụng hợp lý liên hợp máy khi làm việc. * Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc hoàn thiện thêm về mặt kết cấu mẫu LHM (gồm máy kéo Shibaura và thiết bị tời cáp), đồng thời phục vụ cho việc chọn chế độ sử dụng hợp lý LHM khi vận xuất gỗ . c 3 Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình tài nguyên rừng và đặc điểm rừng trồng nước ta Rừng là bộ phận rất quan trọng đối với môi trường sinh thái của nước ta và nhiều nước trong khu vực. Rừng cung cấp một lượng gỗ, củi và các lâm sản khác với khối lượng lớn cho xã hội, đời sống và sản xuất của con người. Do nhiều nguyên nhân, rừng tự nhiên nước ta ngày càng bị thu hẹp, tài nguyên ngày càng cạn kiệt cả về số lượng và chất lượng. Để khôi phục và phát triển, sử dụng rừng có hiệu quả, Đảng và chính phủ đã có nhiều chính sách, chủ trương cấp bách nhằm khôi phục, phát triển rừng bền vững, tạo môi trường sinh thái tốt cho con người . Nhà nước đã triển khai chương trình trồng 5 triệu ha rừng, chương trình này được bắt đầu triển khai từ năm1998 và kết thúc vào năm 2010. Chính sách giao đất, giao rừng tới hộ gia đình, trang trại…nhằm khai thác triệt để và hiệu quả tiềm năng to lớn về đất rừng, nhân lực, vốn, đồng thời phát huy cao độ tinh thần làm chủ với sự nghiệp bảo vệ, khôi phục, phát triển kinh doanh lợi dụng rừng đạt hiệu quả kinh tế cao mà vẫn đảm bảo môi trường sinh thái, phát triển mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên . Rừng được trồng trên mọi địa bàn từ đồng bằng, trung du và miền núi với nhiều chương trình, dự án, đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực và môi trường. Rừng trồng với nhiều mục đích khác nhau như rừng đặc dụng, rừng sản xuất kinh doanh, rừng phòng hộ…Rừng được trồng trên các sườn đồi có độ dốc từ100 đến 200 , rừng trồng phân tán trên các địa hình và diện tích khác nhau. Ngoài các lâm trường quốc doanh trồng rừng với qui mô lớn còn có các hợp tác xã, các hộ gia đình có rừng trồng phân tán trên những địa hình và diện tích khác nhau. Tập trung trên diện tích lớn nhất của rừng trồng phía bắc là rừng nguyên liệu giấy thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú THọ, Yên Bái. Trong 17 lâm trường và trạm lâm nghiệp của công ty c 4 nguyên liệu giấy đã có tổng diện tích 235.797 ha, trung bình hàng năm đã cung cấp 200.000 m 3 gỗ nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng. Các loại cây chủ yếu của rừng trồng nước ta hiện nay là: Bồ đề (40%), Mỡ (19%), Thông (9%), Bạch đàn (7%) và một số loại cây khác như Trám, keo…Tuổi khai thác từ 7 đến 10 năm cho đường kính từ 10 đến 20 cm, chiều cao bình quân 15 đến 20 m, với mật độ trung bình khi thu hoạch là 360 cây/ha, thể tích trung bình cây gỗ khoảng 0,2m 3 và sản lượng khai thác bình quân từ 70 đến 80m 3 /ha . Rừng trồng ở miền Bắc nước ta có đặc điểm: Thuần loài, diện tích phân tán, cách đường vận chuyển không xa, độ dốc sườn đồi không lớn, ít dây leo bụi rậm. Chính từ những đặc điểm của rừng trồng trên đây để chúng ta lựa chọn công nghệ, thiết bị khai thác vận xuất gỗ phù hợp cho việc cơ giới hoá các khâu sản xuất kinh doanh rừng đạt hiệu quả kinh tế, xã hội. Công nghệ và thiết bị khai thác gỗ rừng trồng - Trên thế giới, có ba loại hình công nghệ khai thác, chủ yếu là:[17] + Công nghệ khai thác gỗ dài: Cây gỗ sau khi trặt hạ, cắt cành, ngọn được vận xuất ra bãi I hoặc bãi II. Sau đó cây gỗ được cắt khúc, phân loại sản phẩm và bốc lên phương tiện vận chuyển. + Công nghệ khai thác gỗ ngắn: Tai nơi chặt hạ cây gỗ được cắt cành, ngọn, cắt khúc theo quy cách sản phẩm, sau đó các khúc gỗ được vận xuất ra bãi gỗ và dưa lên phương tiện vận chuyển. + Công nghệ khai thác gỗ nguyên cây: Sau khi trặt hạ, cây gỗ được giữ nguyên cành, ngọn và kéo ra bãi gỗ. Tại đây, người ta cắt cành, ngọn, cắt khúc và phân loại sản phẩm. Cành, ngọn được chế biến tận dụng. Ỏ Việt Nam do trình độ cơ giới hoá và quy mô sản xuất, nên thường áp dụng loại hình công nghệ khai thác, vận xuất gỗ ngắn. Hình thức này đặc biệt phù hợp với sản xuất của các trang trại, hộ gia đình. - Qui trình công nghệ khai thác, vận xuất gỗ ngắn gồm các khâu sau: c 5 +Khâu cắt hạ: Sử dụng dao tạ, cưa xăng, gỗ cắt khúc 1,5 đến 4m. +Khâu vận xuất: có hai giai đoạn Giai đoạn 1: Thu gom gỗ từ nơi chặt hạ về kho gỗ I nằm ở chân đồi hoặc đỉnh đồi bằng trâu, voi, tời cáp, máng lao…Cự ly thường từ vài trăm mét đến 1,5 km. Giai đoạn 2: Đưa gỗ từ kho gỗ I về kho gỗ II hoặc các nhà máy chế biến gỗ với cụ ly ngắn từ 10 đến 15 km. Trong công đoạn này người ta thường sử dụng các loại máy kéo cỡ nhỏ có nguồn động lực là động cơ D - 12, D-15, D-18 lắp trên hệ thống truyền lực và khung của xe ô tô Zil- 130, Gat- 53…để vận xuất, vận chuyển gỗ.
Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên rừng phong phú với đa dạng các loại cây gỗ có giá trị kinh tế và môi trường cao. Tuy nhiên, do tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm đất đai và áp lực khai thác, diện tích rừng tự nhiên ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Để khôi phục và phát triển bền vững, Chính phủ đã triển khai chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng từ năm 1998 đến 2010, tập trung vào các loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Rừng trồng hiện chiếm vị trí quan trọng trong cung cấp nguyên liệu gỗ cho nền kinh tế quốc dân, với sản lượng khai thác bình quân từ 70 đến 80 m³/ha, mật độ trung bình 360 cây/ha, chiều cao cây từ 15 đến 20 m.
Khâu vận xuất gỗ rừng trồng gặp nhiều khó khăn do địa hình dốc, đường vận chuyển nhỏ hẹp và đặc điểm phân tán của rừng. Việc cơ giới hóa khâu vận xuất gỗ là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm sức lao động. Trong đó, liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 kết hợp với thiết bị tời cáp và cần treo gỗ được đánh giá là giải pháp phù hợp với địa hình đồi núi Việt Nam. Luận văn tập trung nghiên cứu khả năng làm việc của liên hợp này trên đường vận xuất gỗ có độ dốc từ 10° đến 15°, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc lựa chọn chế độ sử dụng hợp lý và cải tiến thiết kế thiết bị.
Nghiên cứu có phạm vi thực hiện tại các khu rừng trồng ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là khu vực núi Luốt (Hà Tây) và các lâm trường nguyên liệu giấy Vĩnh Phú. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả khai thác gỗ rừng trồng, giảm thiểu tổn thất và bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời hỗ trợ phát triển ngành cơ giới hóa nông - lâm nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng các lý thuyết và mô hình sau:
- Lý thuyết động lực học hệ nhiều vật: Sử dụng nguyên lý D’Alembert và phương trình Lagrange loại II để mô tả chuyển động cơ học của liên hợp máy kéo và thiết bị tời cáp trên địa hình không bằng phẳng.
- Lý thuyết ô tô - máy kéo: Phân tích các lực tác dụng lên bánh xe chủ động, lực kéo tiếp tuyến, lực bám và các lực cản chuyển động như lực cản lăn, lực cản dốc, lực quán tính và lực cản không khí.
- Khái niệm vận xuất gỗ và phương pháp kéo nửa lết: Nghiên cứu các phương pháp vận xuất gỗ phù hợp với đặc điểm rừng trồng phân tán, địa hình dốc và quy mô sản xuất nhỏ.
- Các khái niệm chính: Mô men xoắn, lực kéo tiếp tuyến, lực bám, lực cản chuyển động, phản lực pháp tuyến, hệ số ma sát giữa gỗ và mặt đất, góc dốc đường vận xuất, góc hợp bởi dây cáp với phương chuyển động.
Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực nghiệm được thu thập tại các khu rừng trồng miền Bắc Việt Nam, bao gồm đo đạc trắc diện dọc đường vận xuất, xác định tọa độ trọng tâm liên hợp máy kéo, đo lực căng cáp tời và các thông số kỹ thuật của máy kéo Shibaura SD 2843.
- Phương pháp phân tích: Kết hợp phương pháp giải tích xây dựng mô hình động lực học tuyến tính, giải phương trình vi phân mô tả chuyển động của liên hợp máy kéo. Phân tích các lực tác dụng và cân bằng lực kéo để đánh giá khả năng làm việc.
- Timeline nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2010, bao gồm khảo sát thực địa, thiết kế mô hình, thực nghiệm đo đạc và phân tích số liệu.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Lựa chọn máy kéo Shibaura SD 2843 do tính phổ biến và phù hợp với địa hình đồi núi Việt Nam; khảo sát các tuyến đường vận xuất đặc trưng với độ dốc từ 10° đến 15°; đo đạc trên các bó gỗ có chiều dài trung bình 11 m, đường kính 10-25 cm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Lực kéo tiếp tuyến và mô men xoắn: Lực kéo tiếp tuyến cực đại của liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 đạt khoảng 9.137 N khi sử dụng số truyền lớn nhất và mô men quay động cơ tối đa 28 mã lực. Lực kéo này đủ để khắc phục các lực cản chuyển động trên đường vận xuất có độ dốc đến 15° với tải trọng chuyến gỗ khoảng 4.500 N.
-
Ảnh hưởng của độ dốc và tải trọng chuyến đến lực căng cáp tời: Lực căng cáp tời tăng theo độ dốc và tải trọng chuyến, với công thức biểu diễn mối quan hệ là
$$ T = Q \times \frac{1,02 \cos \alpha + 0,019 \sin \alpha}{0,517} $$
với (\alpha) là góc dốc đường vận xuất, (Q) là tải trọng chuyến. Ví dụ, tại (\alpha = 15^\circ), lực căng cáp đạt khoảng 10.660 N với tải trọng 4.500 N. -
Phản lực pháp tuyến và hệ số bám: Phản lực pháp tuyến lên cầu trước và cầu sau máy kéo thay đổi theo tải trọng chuyến và độ dốc, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số bám và khả năng ổn định chuyển động. Phản lực pháp tuyến cầu sau đạt khoảng 9.147 N, cầu trước khoảng 6.694 N tại độ dốc 15° và tải trọng 4.500 N.
-
Khả năng làm việc theo điều kiện kéo và bám: Điều kiện để liên hợp máy kéo vận hành hiệu quả là lực kéo tiếp tuyến cực đại phải lớn hơn tổng lực cản chuyển động và nhỏ hơn lực bám bánh xe. Kết quả cho thấy liên hợp máy có khả năng vận xuất gỗ hiệu quả trên địa hình dốc đến 15° với tải trọng chuyến phù hợp, đảm bảo không xảy ra hiện tượng trượt bánh.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu trước đây về sử dụng máy kéo bánh hơi trong vận xuất gỗ rừng trồng tại Việt Nam và một số nước có địa hình tương tự như Trung Quốc, Thụy Điển. Việc trang bị thiết bị tời cáp và cần treo gỗ giúp nâng cao hiệu quả vận xuất, giảm sức lao động thủ công và tăng năng suất khai thác.
Phân tích lực kéo và lực bám cho thấy, khả năng làm việc của liên hợp máy kéo phụ thuộc lớn vào điều kiện mặt đường vận xuất, đặc biệt là độ dốc và mấp mô mặt đường. Việc khảo sát trắc diện dọc đường vận xuất với biên độ mấp mô từ 2 cm đến 8 cm và bước sóng từ 0,6 m đến 1,5 m giúp mô hình hóa chính xác các kích động động học tác động lên máy kéo.
Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa lực căng cáp, tải trọng chuyến và độ dốc đường vận xuất cung cấp công cụ hữu ích cho người vận hành lựa chọn chế độ làm việc phù hợp, tránh quá tải và đảm bảo an toàn. Ngoài ra, việc xác định phản lực pháp tuyến và hệ số bám giúp đánh giá khả năng ổn định hướng chuyển động, giảm thiểu nguy cơ mất lái hoặc lật máy kéo trên địa hình dốc.
Các kết quả có thể được trình bày qua biểu đồ lực căng cáp theo độ dốc, đồ thị phản lực pháp tuyến theo tải trọng chuyến và bảng so sánh lực kéo cực đại với lực bám bánh xe, giúp minh họa rõ ràng hiệu quả và giới hạn làm việc của liên hợp máy kéo.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tối ưu hóa thiết kế liên hợp máy kéo và thiết bị tời cáp: Cải tiến kết cấu giá đỡ tời và cần treo gỗ để tăng độ bền và giảm trọng lượng, nâng cao hiệu suất làm việc. Thời gian thực hiện: 12 tháng; Chủ thể: Nhà sản xuất thiết bị cơ giới lâm nghiệp.
-
Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho đường vận xuất gỗ: Thiết kế và thi công đường vận xuất có độ dốc tối đa 15°, mấp mô mặt đường dưới 4 cm để giảm dao động và tăng tuổi thọ thiết bị. Thời gian: 18 tháng; Chủ thể: Ban quản lý rừng và cơ quan quản lý địa phương.
-
Đào tạo vận hành và bảo dưỡng thiết bị: Tổ chức các khóa đào tạo kỹ thuật cho người vận hành máy kéo và thiết bị tời cáp, tập trung vào lựa chọn chế độ làm việc phù hợp và bảo trì định kỳ. Thời gian: 6 tháng; Chủ thể: Trường đại học Lâm nghiệp và các trung tâm đào tạo nghề.
-
Nghiên cứu mở rộng ứng dụng liên hợp máy kéo cho các loại rừng trồng khác: Thử nghiệm và đánh giá khả năng làm việc trên các loại rừng trồng có đặc điểm khác nhau về địa hình và loại gỗ, nhằm đa dạng hóa công nghệ vận xuất. Thời gian: 24 tháng; Chủ thể: Viện nghiên cứu cơ giới hóa nông - lâm nghiệp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà quản lý lâm nghiệp và cơ quan chức năng: Sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chính sách phát triển cơ giới hóa khai thác rừng trồng, quy hoạch đường vận xuất phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.
-
Các doanh nghiệp và hợp tác xã khai thác gỗ rừng trồng: Áp dụng công nghệ liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 với thiết bị tời cáp để nâng cao năng suất vận xuất, giảm chi phí lao động và tăng tính an toàn trong khai thác.
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành cơ khí nông - lâm nghiệp: Tham khảo mô hình động lực học, phương pháp phân tích lực kéo và thiết kế thiết bị chuyên dùng phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ mới.
-
Các đơn vị đào tạo nghề và trường đại học: Sử dụng luận văn làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu thực tế về cơ giới hóa trong khai thác và vận xuất gỗ rừng trồng, nâng cao chất lượng đào tạo.
Câu hỏi thường gặp
-
Liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 có phù hợp với địa hình dốc bao nhiêu độ?
Nghiên cứu cho thấy liên hợp máy có thể vận hành hiệu quả trên địa hình có độ dốc từ 10° đến 15°, đảm bảo lực kéo và lực bám đủ để vận xuất gỗ an toàn. -
Lực căng cáp tời ảnh hưởng như thế nào đến khả năng vận xuất gỗ?
Lực căng cáp tời tăng theo tải trọng chuyến và độ dốc đường vận xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến công suất làm việc và độ bền của thiết bị. Ví dụ, tại độ dốc 15°, lực căng có thể lên đến khoảng 10.660 N với tải trọng 4.500 N. -
Phản lực pháp tuyến tác động đến sự ổn định của máy kéo ra sao?
Phản lực pháp tuyến lên bánh xe ảnh hưởng đến hệ số bám và khả năng ổn định hướng chuyển động. Nếu phản lực pháp tuyến giảm dưới mức cho phép, máy kéo có thể mất lái hoặc bị lật. -
Phương pháp vận xuất gỗ nửa lết là gì?
Phương pháp kéo nửa lết là kỹ thuật vận xuất gỗ bằng cách dùng tời cáp cuốn dây kéo gỗ treo trên cần chữ A, giúp giảm ma sát và lực kéo, phù hợp với địa hình dốc và rừng trồng phân tán. -
Làm thế nào để lựa chọn tải trọng chuyến phù hợp khi vận xuất gỗ?
Dựa vào công thức và đồ thị mối quan hệ giữa tải trọng chuyến, lực căng cáp và độ dốc đường vận xuất, người vận hành có thể xác định tải trọng tối ưu để đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình vận xuất.
Kết luận
- Liên hợp máy kéo Shibaura SD 2843 với thiết bị tời cáp và cần treo gỗ phù hợp với địa hình đồi núi có độ dốc từ 10° đến 15°, đáp ứng yêu cầu vận xuất gỗ rừng trồng hiệu quả.
- Lực kéo tiếp tuyến cực đại đạt khoảng 9.137 N, đủ để khắc phục các lực cản chuyển động và đảm bảo không bị trượt bánh trong điều kiện vận hành thực tế.
- Lực căng cáp tời và phản lực pháp tuyến lên bánh xe thay đổi theo tải trọng chuyến và độ dốc, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc và ổn định của liên hợp máy.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn chế độ làm việc hợp lý, thiết kế cải tiến thiết bị và xây dựng tiêu chuẩn đường vận xuất gỗ.
- Đề xuất các giải pháp tối ưu hóa thiết bị, đào tạo vận hành và mở rộng ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác gỗ rừng trồng trong thời gian tới.
Áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn khai thác, đồng thời triển khai các đề tài nghiên cứu mở rộng để phát triển công nghệ cơ giới hóa bền vững trong ngành lâm nghiệp.