MỞ ĐẦU Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm ướt quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật phát triển phong phú và đa dạng. Nhiều công trình khoa học đã chứng minh các hợp chất thiên nhiên có nhiều tính chất quý giá như khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống ung thư, v.Với những kết quả này, việc nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm thiên nhiên cho thực phẩm, thực phẩm chức năng đang được đầu tư quan tâm, trở thành xu hướng của xã hội văn minh, hiện đại. Gừng là loại cây quen thuộc, nó được xem như nguồn nguyên liệu có giá trị trong chế biến thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh.
Gừng có tên khoa học Zingiber officinale được trồng ở nhiều nơi, các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Ở Việt Nam, gừng được trồng từ thế kỷ thứ II trước Công Nguyên và được trồng phổ biến ở khắp các vùng miền trên đất nước Việt Nam. Với 150 loài gừng khác nhau trên thế giới đã được báo cáo, chi gừng được đánh giá là chi quan trọng và lớn nhất trong các loài thực vật có vị cay [1]. Theo đông y gừng tươi có tác dụng trị bệnh đường tiêu hóa (như lạnh bụng, đầy hơi, ăn không tiêu, đau bụng tiêu chảy, chống nôn và chống say tàu xe), trị cảm cúm, làm ra mồ hôi, gừng sao vàng chữa tay chân lạnh, nhức mỏi tê bại. Đặc biệt trong tây y gần đây các nhà khoa học đã chứng minh thành phần gingerol (chiếm 0.6 – 1% trọng lượng gừng khô) trong gừng có nhiều tác dụng dược lý như giảm ho, chống viêm, đau dạ dày… và đặc biệt trong hỗ trợ điều trị ung thư [2].
Gừng là một loài thực vật dễ trồng, dễ chăm sóc và không bị sâu bọ phá năng xuất thu hoạch cao với sản lượng trung bình 25 – 30 tấn/ha. Với năng suất hàng năm lớn như vậy nhưng sản lượng gừng tiêu thụ trong nước rất thấp, vẫn chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc. Hiện nay ở nước ta gừng chưa được sử dụng nhiều vào mục đích sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm mà chủ yếu dùng làm gia vị, mứt, bánh kẹo. Để giải quyết những vấn đề về nguồn nguyên liệu gừng trong nước và chất lượng sản phẩm từ gừng.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tối ưu quá trình chiết xuất chất cay trong dược liệu Gừng (Zingiber officinale)”. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chi gừng Trong ngành thực vật hạt kín họ gừng (Zingiberaceae) có khoảng 50 chi, 1300 loài. Các loài trong họ gừng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, v. Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, do đó nguồn tài nguyên họ gừng rất đa dạng, hiện có 19 chi, 141 loài và 3 thứ (Bảng 1.
Theo phân loại thực vật học, chi Zingiber được sắp xếp theo trình tự [5]: Giới (regnum): Thực vật (Plantae) Bộ (oro): Zingiberales Họ (familia): Zingiberaceae Chi Gừng là những cây thân thảo yếu. Lá thuôn dài, hình mũi mác, mọc cao vừa phải, mỏng, không có cuống hoặc cuống rất ngắn. Cụm hoa hình nón, phát sinh từ thân rễ trên một trục nhẵn có vẩy, không có lá. Lá bắc xếp đè lên nhau chặt chẽ, khá lớn, thường có màu sắc rực rỡ, màu đỏ hoặc màu vàng.
Hoa mọc ở mỗi trục của các lá bắc, đài hoa mỏng, hình ổng. Tràng có 3 thùy thuôn dài. Cánh môi hình trứng hay hình thuẫn. Quả nang hay nạc, không mở.
Hạt màu đen hoặc nâu đen, được bao phủ bởi một lớp áo hạt mỏng, màu trắng [1, 6, 7]. Toàn cây thường có mùi hắc [8]. Phân loại và phân bố của các loài chi gừng ở Việt Nam TT Tên khoa học Tên Việt Nam Phân bố 1 Z. officinale Roscoe Gừng Phân bố rộng rãi Z.
acuminatum Tây Nguyên, 2 Gừng nhọn Valeton Trung Bộ Z. cochinchinesis 3 Gừng Nam Bộ Bà Rịa - Vũng Tàu Gagn. Gừng Eberhardt Lâm Đồng 1 Gừng lúa, Ngải 5 Z. monophyllum 6 Gừng một lá Ninh Bình Gagn.
Gừng bọc da Bà Rịa - Vũng Tàu Z. Gừng đỏ Lâm Đồng 10 Z. Gừng lông hung Ba Vì, Vĩnh Phúc Z. 11 Gừng gió Phân bố rộng rãi Sm.
Gừng môi tím Sơ Pai, Kban, Gia 12 Theilade đốm Lai Z. collinsii Mood & 13 Gừng colin Bắc Trung Bộ Theilade 1.1 Giới thiệu về loài gừng Zingiber officinale a. Vị trí phân loại loài gừng Zingiber officinale Chi Zingiber là một chi thuộc họ Gừng Zingiberaceae gồm có 150 loài khác nhau trong đó có 34 loài được báo cáo từ Trung Quốc và 24 loài từ Ấn Độ [1]. Tại Việt Nam, chi Gừng có khoảng 14 - 17 loài [9].
Vị trí của loài Zingiber officinale trong hệ thống phân loại học thực vật (Hình 1. Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Bộ: Zingiberales Họ: Zingiberaceae Chi: Zingiber Loài: Zingiber officinale Roscoe. Đặc điểm thực vật loài gừng Zingiber officinale Cây thân thảo cao từ 0,5 – 1 m. Thân rễ mẫm lên thành củ, lâu dần thành xơ.
Lá mọc so le, không cuống, có bẹ phiến lá hình mác to, mặt lá nhẵn bóng, có gân giữa hơi trắng nhạt và khi vò có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ gốc, dài tới 20 cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau, hoa dài 5 cm, rộng 2 – 3 cm, lá bắc hình trứng, dài 2,5 cm, mép lưng màu vàng, đài hoa dài chừng 1 cm. Hoa mọc thành bông từ gốc. Hoa có tràng hoa màu vàng xanh, có thùy gần bằng nhau nhọn.
Cánh môi ngắn hơn các thùy của tràng, màu tía với những chấm vàng. Nhị hoa màu tím. Loài gừng trồng ít ra hoa [9, 10]. Phân bố của loài gừng Trên thế giới, gừng Zingiber officinale phân bố ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á, bao gồm một số nước như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc.
Ở Việt Nam, cây mọc rải rác ở các tỉnh trung du, vùng núi thấp và đôi khi cả ở đồng bằng [1]. Yêu cầu điều kiện sinh thái loài gừng Gừng là cây ưa ẩm, chịu bóng, thường mọc ở ven rừng và dưới tán rừng kín thường xanh. Ở vùng trung du và đồng bằng, cây mọc lẫn trong các lùm bụi dưới chân đồi hoặc quanh làng bản. Gừng có hệ thống thân rễ phát triển.
Mỗi năm từ một nhánh mẹ có thể mọc thêm 2-3 nhánh con. Do đó, trong tự nhiên cây thường tạo thành những bụi lớn, có khi chiếm 1-2 m2 [1]. Cây ra hoa quả hàng năm. Chưa quan sát được cây con mọc từ hạt.
Tuy nhiên, nó là cây dễ trồng. Trồng bằng các nhánh con hoặc đoạn thân rễ đều cho kết quả tốt [1]. Khu vực Bắc Trung Bộ, với nền khí hậu nhiệt đới ẩm được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học về các loài thuộc chi gừng đặc biệt là loài Z. Chúng là loài cây thân thảo sống nhiều năm thích nghi được ở nơi đất ẩm, nơi sáng, dưới tán rừng hay vách đá ẩm, hoặc có thể mọc trên đất lẫn sỏi đá, trên bãi đất trống.
tạo nên nguồn nguyên liệu dồi dào cho nghiên cứu, sản xuất ứng dụng trong thực phẩm, dược phẩm.2 Thành phần hóa học Thành phần hóa học của củ gừng tùy thuộc vào loại giống, khí hậu đất đai, chế độ chăm bón và thời điểm thu hoạch, v. Gừng tươi thường chứa hơn 80% ẩm, 2,3% protein, 0,9% chất béo, 1,2% chất khoáng, 2,4% chất xơ, 12,3% hợp chất carbohydrate và các thành phần vi lượng như chất khoáng (sắt, calcium, phosphorus), các vitamin (thiamine, riboflavin, niacin, acid ascorbic. Chất thơm là những chất có khả năng bay hơi, hoặc bay hơi một phần trong không khí. Các chất thơm có thể ở dạng đơn hay hỗn hợp các chất, có thể là chất rắn hay chất lỏng hoặc khí.
Đến nay người ta đã xác định được khoảng 7000 chất bay hơi trong thực phẩm, các chất này chủ yếu thuộc các nhóm chất aldehyde, ketone, các acid hữu cơ, ester, v. Chất thơm là một hỗn hợp nhiều thành phần có thể là alcohol được hình thành đầu tiên trong chlorophoit, hay ester do phản ứng ester hoá của các acid với alcohol trong chloroplast hoặc terpene alcohol do sự đồng phân hoá [11]. a, Tinh dầu gừng Thành phần và hàm lượng tinh dầu gừng thay đổi theo nguồn gốc, vị trí địa lý, và điều kiện trồng gừng, tuy nhiên, cấu trúc chính trong thành phần là sesquiterpene hydrocarbon, bao gồm zingiberene, (+)-ar-curcumene, (-)-β- sesquiphellandrene, và β-bisabolene, bên cạnh đó, hơn 50 thành phần tinh dầu là các monoterpeneoid [β-phellandrene, (+)-camphene, cineole, geraniol, curcumene, citral, terpineol, borneol] và sesquiterpeneoid [α-zingiberene (30÷70%), β- sequiphellandrene (15 ÷ 20%), β-bisabolene (10 ÷ 15%), (E-E)-α-farnesene, ar- curcumene, zingiberol] [12]. Các hợp chất monoterpene aldehyde, hợp chất alcol cũng xuất hiện trong tinh dầu gừng [13].
Thân rễ loài gừng Việt Nam có hàm lượng khoảng 2,7% so với khối lượng khô tuyệt đối được định lượng bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước (bởi Van Beek, 1987) so với 1,7% hàm lượng tinh dầu của gừng Đài Loan (bởi Chen 1988) và từ 1% - 2% gừng Tứ Xuyên (Trung Quốc). Đồng thời, thành phần các hoạt chất trong tinh dầu gừng Việt Nam đã được định danh bằng các phương pháp GC, GC/MS và NMR [14]. Nhưng ở gừng tươi và gừng khô có các thành phần hóa học khác nhau (bảng 1. 4 Trong nghiên cứu của Sivasothy và cộng sự [15], thành phần của tinh dầu thu được của lá và thân rễ của Z.
Rubrum Theilade thì khác nhau. Trong thực tế, β-caryophyllene (31,7%) là hợp chất chính được tìm thấy trong lá, trong khi thân rễ chủ yếu chứa nhiều monoterpenoids, như camphene (14,5%), geranial (14,3%) và geranylacetate (13,7%). Thành phần trong tinh dầu của gừng khô và gừng tươi [16] Thành phần Gừng tươi (%) Gừng khô (%) Zingiberene 28,6 30,3 Geranial 8,5 4,4 Geraniol 1,8 0,5 Ar‐curcumene 5,6 11 β‐bisabolene 5,8 7,2 Camphene 4 1 Sabinene 3 0,8 β-sesquiphellandrene 2,5 6,6 Germacrene-D 1,3 4,2 Ở Việt Nam từ loài Gừng (Z. officinale) có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học như: Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự [17], 2005 công bố với các thành phần chính là camphene (11,7%), β-phelandrene (11,4%) và geranyl acetate (23,4%).
Đỗ Đình Rãng và cộng sự [18] đã công bố loài này ở Hưng Yên, từ rễ là zingiberene (10,1%), camphene (9,3%), 1,8-cineol (8,1%); trong khi đó từ lá chủ yếu là β-cariophyllene (28,7%), geraniol (14,4%) và caryophyllene oxide (10,9%). O OH H OMe H O Geranial (CitralA) Zingeron Alpha-zingiberene 5 H HO OH Ar-curcumene Zingiberenol Sesquibinenehydrate Hình 1. Cấu trúc các chất đã được định danh trong tinh dầu gừng [1] b, Chất dinh dưỡng Ngoài thành phần tinh dầu, trong loài Zingiber officinale còn chứa: + Protein: khoảng 12,25% với gừng Trung Quốc, 6,67% với gừng Thái Lan, 2,3% với gừng Ấn Độ. + Chất xơ, chất béo: khoảng 9,0% với gừng Thái Lan, 7,78% với gừng Trung Quốc, và 1% với gừng Ấn Độ.