Mở đầu là phương pháp tính toán cho năm cấu hình dòng chảy do Shindo phát triển [6]. Tiếp đó, CY Pan đề xuất các mô hình màng không đối xứng thông lượng cao có thể được giải bằng tích phân số của một tập hợp các phương trình vi phân với các điều kiện biên cho dòng giữ lại và dòng thẩm thấu [7]. Pan sử dụng phương pháp thử và sai kết hợp với thay đổi góc bắn (trial - error method và shooting method) với ước tính ban đầu về cấu hình áp suất và nồng độ dọc theo chiều dài của thiết bị. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó có hạn chế vì khối lượng tính toán lớn, cồng kềnh và sự nhạy cảm của kết quả tuỳ theo ước tính ban đầu [7].
Mặc dù vậy, mô hình của Pan được chấp nhận vô cùng rộng rãi và là hình mẫu cho các nghiên cứu cải tiến. Chowdhury và cộng sự [8] đã đề xuất biến mô hình của Pan thành bài toán giá trị ban đầu, có thể dùng mô hình của Adams-Moulton hoặc phương pháp vi phân ngược để giải các phương trình vi phân phi tuyến tính. Khalipour và cộng sự [9] mở rộng mô hình của Pan thành một hệ phương trình vi phân hữu hạn lùi được giải bằng thuật toán Gauss-Siedel cho môđun dòng cùng chiều và ngược chiều đẳng nhiệt. Kovvali đơn giản hóa mô hình của Pan thành một tập hợp các phương trình phi tuyến tính bằng cách giả sử một quan hệ giữa thành phần dòng thẩm thấu và dòng nhập liệu.
Cách tiếp cận như vậy có thể làm giảm nỗ lực tính toán trong khi vẫn duy trì độ chính xác chấp nhận được [10]. Coker áp dụng cách tiếp cận từng giai đoạn và sử dụng phép xấp xỉ sai phân hữu hạn để chuyển đổi các phương trình cân bằng khối lượng vi phân thành một tập hợp các phương trình đại số phi tuyến áp dụng cho thiết bị màng ngược chiều và dòng chảy ngang. Kết quả của mô hình cho dự toán tốt, hiệu quả và tính ứng dụng cao [11]. 4 Một hướng đi khác trong việc mô phỏng bài toán thiết bị màng được thực hiện bởi các nghiên cứu của Tessendorf [12], Kaldis [13] và Kundu [14], sử dụng phương pháp chọn điểm trực giao để xấp xỉ các phương trình vi phân phi tuyến, mang lại kết quả là ít phương trình đại số hơn và cải thiện độ chính xác của giải pháp.
Ngoài ra, nó cũng có thể dự đoán cấu hình của các biến cơ bản (ví dụ: tốc độ dòng chảy và nồng độ) dọc theo chiều dài sợi tại các điểm sắp xếp được chọn, giúp cung cấp thông tin chi tiết về thiết kế môđun màng. Phương pháp chọn điểm trực giao có nhiều ưu điểm về độ linh hoạt khi giải bài toán đổi trục của biên, có tính ổn định và độ chính xác cao. Sau khi hoàn thành mô hình màng tách khí, các công tác liên quan đến khảo sát thông số mô hình được thực hiện trong nhiều nghiên cứu. Rautenbach và cộng sự tiến hành các thử nghiệm về môđun màng sợi rỗng để phân tích tác động của việc thay đổi các đặc tính khác nhau trong các sợi đơn lẻ, chẳng hạn như độ thẩm thấu, độ chọn lọc và đường kính trong của sợi.
Trong công trình của ông, thuật toán Runge-Kutta đã được phát triển để dự đoán hoạt động của môđun màng dựa trên sự thay đổi của các tham số đang được nghiên cứu. Để mô phỏng các biến thể về độ thẩm thấu của màng và đường kính trong của sợi, phân bố Gaussian được xấp xỉ bằng sáu bó sợi riêng biệt song song được kết nối với phía thẩm thấu. Kết quả từ nghiên cứu của ông đã kết luận rằng các biến thể đường kính trong và độ thấm của sợi có thể gây bất lợi cho việc thu hồi sản phẩm [15]. Chu et al [4] phân tích tác động của việc thay đổi mật độ màng, đường kính trong của sợi và chiều dài của môđun màng sợi rỗng lên quá trình phân tách.
Mô hình được phát triển có tên là “Mollocator” cũng được sử dụng để dự đoán hiệu suất của thiết bị thẩm thấu khi thay đổi các tham số quy trình. Thông qua quá trình khảo sát, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng các môđun màng sợi rỗng với đường kính trong lớn có mức giảm áp suất thấp hơn và động lực thẩm thấu cao hơn. Việc giảm đường kính trong của sợi có thể làm tăng đáng kể mức giảm áp suất ở phía thẩm thấu, giữ mức giảm này ở mức tối thiểu có thể giúp giảm chi phí vận hành liên quan đến máy nén nhưng vẫn đáp ứng độ tinh khiết và thu hồi sản phẩm mong muốn. 5 Lispcomb et al [16] cung cấp một khuôn khổ chi tiết quy trình nghiên cứu các tác động và tính biến thiên của sợi đối với hiệu suất của môđun.
Mô hình giả định phân phối Gaussian cho đường kính trong của sợi, độ chọn lọc và độ thẩm thấu khí. Môđun màng sợi rỗng được xem xét với khả năng trộn thấm hoàn hảo và không trộn thấm. Sau khi thực hiện cả hai trường hợp, kết quả mô phỏng cho thấy rằng sự thay đổi của đường kính trong có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất của môđun khi so sánh với hai yếu tố còn lại. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều hướng đến phát triển mô hình thiết bị màng tách khí theo hai định hướng: - Một là tích hợp thêm nhiều yếu tố: tham số, vật liệu, cấu trúc màng và các thành phần liên quan đến vận hành trong quy trình thiết kế và khảo sát.
- Hai là áp dụng các phương pháp giải toán mới nhằm nâng cao tính hiệu quả, độ chính xác, tin cậy cùng bền vững của mô hình. Mục tiêu đề tài • Trên cơ sở thành phần khí thiên nhiên, xây dựng mô hình thiết bị màng có hiệu quả phân tách cao, tính toán nồng độ, lưu lượng, thành phần của các dòng vật chất. • Lập trình mô hình bằng ngôn ngữ Matlab, mô hình phải có tính đa dạng, áp dụng được nhiều trường hợp, nhiều cấu trúc dòng, các loại thành phần thay đổi trong nguồn nguyên liệu. • Giải mô hình bằng phương pháp chọn điểm trực giao.
• Tiến hành thẩm định độ tin cậy, độ chính xác của mô hình. • Khảo sát ảnh hưởng của thông số thiết kế, thông số vận hành, vật liệu màng đối với hiệu quả phân tách. • Xây dựng hàm chi phí và giải bài toán tối ưu thông qua giải thuật di truyền. • Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của mô hình.
Ý nghĩa đề tài • Ứng dụng lập trình mô phỏng và tối ưu trong thiết kế quá trình và thiết bị, tiến hành dự đoán, đánh giá tính hiệu quả của dự án. 6 • Áp dụng mô hình vào thực tiễn làm việc. • Là tài liệu tham khảo cho thế hệ sau khi tìm hiểu, nghiên cứu về cách tính toán thiết bị màng sợi rỗng dùng trong phân tách khí. • Học tập, nâng cao kiến thức về công nghệ màng, rút kinh nghiệm trong các dự án thiết kế sau này.
Phạm vi đề tài • Nghiên cứu tập trung vào xây dựng mô hình thiết bị màng sợi rỗng kết hợp với tối ưu chi phí vận hành, có thực hiện các bước khảo sát và đánh giá thông số thiết bị nhằm tối ưu hiệu quả phân tách và năng lượng. • Các thông số thiết bị dùng trong mô phỏng được thu thập từ bài báo, công trình nghiên cứu cùng với thực tế tính chất vật liệu màng, luận văn hướng đến giải quyết các cân bằng vật chất trong hoá, những yếu tố nặng về cơ khí, máy móc, thiết kế quá chi tiết sẽ không được đề cập đến trong phạm vi nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khí thiên nhiên 2.
Nguồn gốc Khí thiên nhiên (hay khí gas, khí đốt) là nguồn năng lượng hóa thạch được hình thành sâu bên dưới bề mặt Trái Đất. Giống như dầu mỏ và than đá, cả ba đều xuất phát từ trầm tích phân huỷ của động thực vật dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao trong thời gian dài [17]. Năng lượng mà động thực vật ban đầu thu được từ mặt trời được lưu trữ trong các liên kết hóa học chuyển hoá thành các thành phần của khí thiên nhiên, một tập hợp các hydrocarbon cùng các tạp chất ngoại lai [18]. Quá trình hình thành của các mỏ khí được biểu diễn như hình 2.
Quá trình hình thành khí thiên nhiên (Nguồn: https://content.com/accounts/CAPALO/bulletins/29234cd) 2. Thành phần Thành phần khí thiên nhiên gồm có: thành phần chính hydrocarbon và một lượng nhỏ hợp chất phi hydrocarbon: ➢ Các hợp chất hydrocarbon trong khí thiên nhiên: 8 - Hàm lượng chủ yếu là khí methane (CH4) và đồng đẳng của nó: C2H6, C3H8, n-C4H10, iC4H10, ngoài ra còn có các hợp chất của C5+. Hàm lượng của chúng trong hỗn hợp thay đổi tùy theo mỏ khí [19]. - Khí thiên nhiên thì chứa chủ yếu là CH4 (chiếm khoảng 98% thể tích), các cấu tử C3, C4 và nặng hơn là rất ít.
Đối với khí đồng hành thì hàm lượng các cấu tử C3, C4 cao hơn [19]. ➢ Các hợp chất phi hydrocarbon: - Ngoài các thành phần chính là hydrocarbon, trong khí dầu mỏ còn có chứa các hợp chất như: N2, H2S, CO2, các hợp chất của lưu huỳnh, các khí trơ He, Ar, Ne… [19] - Hơi nước bão hòa: khí thiên nhiên luôn chứa hơi nước bão hòa. Hàm lượng hơi nước có trong hỗn hợp khí phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và thành phần khí [19]. Phân loại Dựa vào dạng tồn tại trong quá trình khai thác, khí thiên nhiên được phân làm khí liên kết (nonassociated gas), khí không liên kết (associated gas), khí tự do (gas cap) và khí hoà tan (dissolved gas) [20]: - Khí không liên kết: được tìm thấy trong các bể khí không chứa hoặc chứa rất ít dầu thô, giàu methane, parafin, thời gian tồn chứa lâu, tuỳ thời có thể khai thác [20].
- Khí liên kết: một tên gọi khác là khí đồng hành, là khí thiên nhiên được tìm thấy trong các bể chứa dầu thô và được tạo ra trong quá trình bơm dầu thô, gồm hai loại: khí tự do tiếp xúc với dòng dầu khai thác và khí hoà tan chứa trong dòng dầu. Khí liên kết thường ít methane hơn so với khí không liên kết nhưng nó sẽ giàu hydrocarbon có trọng lượng phân tử cao hơn [20]. Khí không liên kết có thể được tạo ra ở áp suất cao hơn trong khi khí đồng hành (khí tự do hoặc khí hòa tan) phải được tách ra khỏi dầu mỏ ở áp suất tách thấp hơn, điều này thường làm tăng chi phí nén [17]. Khí thiên nhiên phân loại theo thành phần được thể hiện ở bảng 2.