CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về thuốc nổ 1. Định nghĩa Thuốc nổ là hợp chất hóa học đơn lẻ hoặc hỗn hợp cơ học các chất khác nhau về bản chất, có khả năng dưới tác động bên ngoài (xung kích thích) làm biến đổi hóa học tự lan truyền với sự tạo thành các sản phẩm khí và tỏa ra một nhiệt lượng lớn nung nóng chúng tới nhiệt độ cao. Phân loại Dựa vào cơ chế biến đổi hóa nổ, lĩnh vực sử dụng thực tế thuốc nổ được chia thành 4 nhóm chính: - Nhóm thuốc gợi nổ (thuốc nổ sơ cấp); - Nhóm thuốc nổ phá (thuốc nổ thứ cấp); - Nhóm thuốc phóng; - Nhóm thuốc hỏa thuật.
Nhóm thuốc gợi nổ Đặc điểm của nhóm thuốc nổ này là rất nhạy, với tác dụng của xung lực ngoài rất nhỏ như ngọn lửa, ma sát, va đập, đâm chọc,. thì sinh ra cháy hay nổ thực chất khi cháy chuyển nhanh sang nổ và tốc độ nổ đạt tới giá trị cực đại trong thời gian rất ngắn. Thuốc gợi nổ được sử dụng để kích nổ các loại thuốc nổ khác, theo thành phần hóa học được chia thành 2 loại: - Thuốc gợi nổ đơn: Phuminat Thủy ngân Hg(ONC) 2 , Chì Azotua Pb(N 3 ) 2 , Chì Stipnat C 6 H(NO 2 ) 3 O 2 Pb. - Thuốc gợi nổ hỗn hợp: là loại thuốc gợi nổ có từ hai thành phần trở lên, trong đó có ít nhất một thành phần là thuốc gợi nổ, các thành phần còn lại có thể là thuốc gợi nổ hoặc chất không nổ.
Nhóm thuốc nổ phá Sự biến đổi hóa học đặc trưng: độ nhạy đối với tác dụng xung bên ngoài kém hơn thuốc gợi nổ, khi cháy chuyển thành nổ và gia tốc biến đổi nổ để đạt tốc độ nổ cực đại nhỏ hơn thuốc gợi nổ chính, vì thế nó có đặc trưng nổ ổn định hơn thuốc gợi nổ. Tốc độ nổ và các đặc trưng năng lượng lớn hơn các loại thuốc nổ khác. 1 Thuốc nổ phá thường dùng để nhồi trong bom, mìn, đạn,. Muốn gây nổ thuốc nổ phá phải dùng xung kích thích của kíp nổ, trạm nổ, ngòi nổ.1 Giai đoạn tăng tốc quá trình biến đổi hóa nổ Trong đó: - Dm, Dp: Tốc độ nổ ổn định của thuốc gợi nổ và thuốc nổ phá; - tm, tp: Thời gian để đạt tốc độ nổ ổn định của thuốc gợi nổ và thuốc nổ phá.
Theo thành phần, thuốc nổ phá được chia thành thuốc nổ đơn và thuốc nổ hỗn hợp: + Thuốc nổ đơn: chỉ có một hợp chất trong thành phần. Theo bản chất hóa học, thuốc nổ phá đơn chủ yếu là các chất hữu cơ, chứa một hay nhiều nhóm nitro NO 2 , O-NO 2. Các hợp chất nitro bao gồm các thuốc nổ dãy vòng thơm, dãy amin thơm, dãy mạch thẳng và dãy dị vòng. Các hợp chất nitrat (nitroeste) có thể nhận được từ ancol có một hay nhiều nhóm chức với axit nitric.
Một số thuốc nổ phá đơn điển hình: - Thuốc nổ TNT; - Thuốc nổ Hexogen (RDX); - Thuốc nổ Tetryl; - Thuốc nổ Pentrit (TEN); - Thuốc nổ Octogen; + Thuốc nổ hỗn hợp: là hỗn hợp cơ học các hợp chất và các chất bao gồm thuốc nổ hoặc không phải là thuốc nổ theo thành phần tỉ lệ nhất định tạo nên. Các hệ thuốc nổ phá hỗn hợp được thiết lập theo nguyên tắc đạt được cân bằng oxi bằng không hoặc gần bằng không. Thuốc nổ hỗn hợp được sử dụng rộng rãi hơn nhiều so với thuốc nổ 2 đơn, điều này được lý giải trên các yếu tố: công nghệ; khai thác sử dụng; năng lượng; yếu tố kinh tế; Các ưu điểm của thuốc nổ hỗn hợp như sau: - Tạo ra thuốc nổ có độ nhạy, đặc trưng năng lượng phù hợp với yêu cầu sử dụng. Theo công dụng, thuốc nổ phá hỗn hợp có thể chia thành 2 nhóm: thuốc nổ quân sự và thuốc nổ công nghiệp.
Thuốc nổ công nghiệp bao gồm các loại: Thuốc nổ công nghiệp (dạng hỗn hợp): thông thường trong thành phần của nó chứa các cấu tử giàu oxi, ví dụ: amoni nitrat (NH 4 NO 3 ), kali nitrat (KNO 3 ), natri nitrat (NaNO 3 ), amoni peclorat (NH 4 ClO 4 ),.cũng như chứa các cấu tử cháy trong quá trình nổ một phần hay hoàn toàn do oxi của cấu tử đầu. Trong số các chất cháy có chất không phải là thuốc nổ (parafin, dầu mỏ, bột gỗ, bột nhôm,.) hoặc thuốc nổ mà trong thành phần của nó không đủ oxi để oxi hóa hoàn toàn C và H (TNT, hexogen,. Trong công nghiệp thuốc nổ sử dụng rộng rãi nhất trên cơ sở Amoni Nitrat. Theo thành phần, được chia thành các loại: amonit, amonal, đinamon và thuốc nổ chứa nước (Acvatol, acvanit, acvanal, ifzanit, cacbotol,.), thuốc nổ nhũ tương.
- Amonit: hỗn hợp dạng bột NH 4 NO 3 với TNT (hoặc Hexogen, Dinitronaftalen) và các hợp chất cháy không nổ, có thể thêm các phụ gia ví dụ: chất dập lửa là muối clorua của kim loại kiềm. - Amonal: là các amonit chứa nhôm. - Đinamon: NH 4 NO 3 và các thành phần không nổ (mùn cưa, than bùn, mùn từ vỏ thông, bột nhôm, dầu khoáng, parafin,.), trạng thái hạt gọi là granulit, ngoàira còn có igranit hay còn gọi là ANFO: hỗn hợp NH 4 NO 3 với dầu Diezen. - Thuốc nổ Acvatol là thuốc nổ huyền phù điền nước thể chảy loãng, pha rắn là amonit hai hợp phần ở trạng thái hạt hoặc Amonal ở trạng thái hạt, còn pha lỏng là dung dịch NH 4 NO 3 đậm đặc bão hòa.
- Acvanit và Acvanal là các thuốc nổ huyền phù điền nước ở thể dẻo, mà cơ sở hoạt động của chúng với sự có mặt của Ca(NO 3 ) 2 hoặc NaNO 3 và 3 các phụ gia hóa dẻo. Ví dụ trong thành phần thuốc nổ chứa nước (Watergel): chất oxi hóa là NH 4 NO 3 + NaNO 3 hoặc Ca(NO 3 ) 2 , chất cháy là TNT, chất tạo gel là bột sắn, chất tăng nhạy là (NH 4 ) 2 Cr 2 O 7. - Ifzanit là các thuốc nổ huyền phù chứa dung dịch, mà pha rắn của chúng (hỗn hợp Nitrat và TNT dạng hạt được điền đầy bằng dung dịch NH 4 NO đặc tại nơi sử dụng và thời điểm nạp xuống lỗ mìn. - Cacbotol là các thuốc nổ đông cứng rót nóng, được chế tạo tại nơi sử dụng trên cơ sở hỗn hợp cùng tính dễ nóng chảy của các hợp phần tan trong nước với lượng nước nhỏ.
Theo trạng thái vật lý có thể chia thành thuốc nổ rắn liền khối (đúc, nén), rời (dạng bột hoặc hạt), dẻo huyền phù hoặc chảy loãng. Theo các đặc điểm đặc trưng nhất các thuốc nổ công nghiệp hiện đại có thể chia thành thuốc nổ chịu nước (ANFO chịu nước, watergel) và không chịu nước (ANFO thường). Theo lĩnh vực và các điều kiện sử dụng an toàn: - Thuốc nổ không an toàn: + Thuốc nổ chỉ cho công tác nổ mỏ lộ thiên; + Thuốc nổ cho công tác nổ mỏ lộ thiên và dưới đất, trừ các mỏ nguy hiểm về khí hoặc bụi. - Thuốc nổ an toàn: được phân loại theo các mức độ an toàn khác nhau + Thuốc nổ an toàn dùng cho hầm lò nguy hiểm về khí mê tan ; + Thuốc nổ an toàn dùng cho các hầm lò than và hỗn hợp của các mỏ nguy hiểm về khí hoặc bụi; + Các loại thuốc nổ an toàn nâng cao dùng cho các hầm lò than và hỗn hợp các công tác đặc biệt trong các mỏ + Thuốc nổ an toàn cao để đào than và các công tác đặc biệt trong các mỏ nguy hiểm đặc biệt về khí.
Giới thiệu chung về thuốc nổ nhũ tương. Lịch sử phát triển. Lịch sử phát triển sản xuất, sử dụng thuốc nổ công nghiệp bao gồm một số giai đoạn chính mà chúng ta có thể sắp xếp và phân loại theo thời gian như sau: thuốc đen, Dinamit, thuốc nổ TNT (Trinitrotoluen), các hỗn hợp 4 chứa muối Nitrat và Amoni, ANFO (Amoni nitrate and fuel oil), các thuốc nổ có chứa nước. Sau đó, ở các nước có nền công nghiệp khai thác mỏ phát triển đã nghiên cứu ra một loại thuốc nổ công nghiệp mới an toàn, không gây độc hại đến môi trường và có thể sử dụng dưới môi trường nước với tên gọi chung là thuốc nổ nhũ tương.
Loại thuốc nổ này bao gồm rất nhiều thành phần nhạy hóa trên nhũ tương “nước trong dầu”. Các hỗn hợp này đáp ứng tất cả các yêu cầu ngày càng cao đối với thuốc nổ công nghiệp. Một số nhà nghiên cứu đã không có cơ sở khi cho rằng sự xuất hiện của thế hệ các dạng nhũ tương mới được tạo lập bằng cách loại bỏ được nhược điểm của các loại thuốc nổ chứa nước như kém ổn định, khả năng chịu nước thấp và gọi chúng là các thuốc nổ mới trong seri thuốc nổ công nghiệp chứa nước. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chế tạo thuốc nổ nhũ tương được tiến hành theo một nguyên lý hoàn toàn mới, cả theo đơn phối trộn các thành phần, cả theo công nghệ chế tạo và do vậy, hợp lý hơn cả là xếp chúng vào một họ thuốc nổ mới.
Ý tưởng đặt nền móng cho việc nghiên cứu chế tạo thuốc nổ nhũ tương là thành phần chất Oxy hóa được hòa tan vào dung dịch sẽ là pha dung dịch của nhũ tương, còn pha còn lại sẽ là một số chất cháy hoặc phụ gia. Thuốc nổ nhũ tương được chia ra dạng thỏi và dạng rời. Khác với các thuốc nổ chịu nước dạng gel, nhũ tương không cần làm đặc điều này đơn giản hóa việc chế tạo thuốc cũng như hạ được giá thành sản phẩm. Trong thành phần của thuốc nổ nhũ tương, ta có thể thêm rất nhiều phụ gia khác nhau, các phụ gia này có thể được thêm vào dung dịch chất Oxy hóa hoặc vào nhũ tương nền.
Ngay từ những thử ngiệm đầu tiên, thuốc nổ nhũ tương đã chứng tỏ các ưu điểm không thể tranh cãi được của chúng so với các họ thuốc nổ khác như: - Độ an toàn cao khi chịu các tác động cơ học (va đập, ma sát, nhiệt, lửa, đạn bắn xuyên qua.