mở đầu hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu hiện nay của Việt Nam, gồm: Gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, sắn, ngô,… thì gạo là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ nhất và tương đối ổn định, trung bình chiếm khoảng 25% tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu khoảng 3,6 tỷ USD mỗi năm [30, 71, 72]. Việt Nam có nghề truyền thống trồng lúa nước trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt phát triển rất mạnh tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia biển, với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km, diện tích mặt biển rộng khoảng 1 triệu km2, nằm ở vị trí quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, rất thuận lợi cho quá trình vận tải hàng hóa, trong đó có hàng gạo xuất khẩu, bằng đường thủy nội địa và đường biển.
Tuy nhiên, sản xuất, xuất khẩu gạo và hệ thống vận tải của Việt Nam hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước. Có rất nhiều nguyên nhân hạn chế như: Hệ thống vận tải, phương tiện vận tải, cảng nội thủy, cảng biển, thị trường xuất nhập khẩu, cơ sở hạ tầng, tập quán canh tác, chế độ chính sách, cơ sở pháp lý,… Hơn nữa, tác động của môi trường, biến 1 đổi khí hậu, thời tiết cực đoan,… điển hình là hiện tượng ngập mặn tại một số địa phương của đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 3 năm 2016, đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất và khối lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, vấn đề này mang tính thời điểm, Chính phủ đang rất quan tâm, đã có những biện pháp khắc phục tình trạng này, đảm bảo khối lượng gạo xuất khẩu ổn định và tăng trưởng trong thời gian tới. Để sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam không bị tụt hậu ngay chính sân nhà, từng bước nắm cơ hội cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất nhập khẩu gạo của khu vực và thế giới, đặc biệt Việt Nam là thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP (Trans-Pacific Partnership Agreement).
Mục tiêu chính của Hiệp định TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa 12 nước thành viên (Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản), trong đó có hàng gạo [23, 72]. Để thoả mãn đáp ứng tiêu dùng và an ninh lương thực cho người dân Việt Nam, nhưng vẫn đảm bảo với tư cách là một nước xuất khẩu gạo ổn định, có thương hiệu và uy tín trên thị trường thế giới. Việt Nam tích cực thúc đẩy mục tiêu chiến lược là công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, tạo ra khối lượng gạo xuất khẩu với chất lượng tốt và kim gạch xuất khẩu tăng cao. Một trong những nhiệm vụ quan trọng để đạt mục tiêu này là tối ưu hóa hệ thống vận tải hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Vấn đề này luôn mang tính cấp thiết, không chỉ đối với cơ quan điều hành, quản lý vĩ mô của Nhà nước, mà còn đối với các tổ chức, doanh nghiệp,… tham gia hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng gạo. Hệ thống vận tải hàng hóa nói chung và vận tải hàng gạo nói riêng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Nếu hệ thống vận tải hàng hóa được trang bị và liên kết với nhau đồng bộ sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho các thành phần của hệ thống, đồng thời giảm được cước phí vận 2 tải, chi phí kho bãi, lưu thông phân phối,… tăng thu nhập cho nông dân, lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn cho đất nước. Theo kết quả thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [28, 29, 30, 39, 41], diện tích trồng lúa đến năm 2015 khoảng 3,81 triệu ha, năng suất lúa trung bình đạt 57,4 tạ/ha.
Trong 10 năm gần đây, từ năm 2006 đến năm 2015, trung bình khối lượng gạo xuất khẩu cả nước đạt 6,197 triệu tấn/năm. Trong đó trung bình hàng năm khu vực đồng bằng sông Cửu Long (hay khu vực Tây Nam Bộ) xuất khẩu gạo đạt 5,9 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 95,17% tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam [39, 40, 44, 72]. Vì vậy, mục đích của vấn đề nghiên cứu là tối ưu hóa hệ thống vận tải gạo xuất khẩu của Việt Nam, thực chất là tối ưu hóa hệ thống vận tải gạo xuất khẩu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài luận án trong nước và nước ngoài, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án: - Năm 2006, Cục Đường sông Việt Nam (nay là Cục Đường thủy nội địa) đã chủ trì thực hiện Đề án [58]: "Đề án tổng thể toàn diện về phát triển giao thông thủy cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010, định hướng đến năm 2020".
Đề án đã thực hiện nghiên cứu tổng quan về hệ thống giao thông vận tải và hiện trạng giao thông thủy khu vực. Phân tích, tổng hợp số liệu thống kê và dự báo lượng hàng hóa thông qua và các phương tiện vận tải ra vào cảng đến năm 2025. Dự báo cỡ tàu, tải trọng tàu ra vào các cảng trên sông Tiền Giang, sông Hậu Giang, sông Hàm Luông, sông Vàm Cỏ,. - Năm 2009, nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hinh, tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đã nghiên cứu và bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài [20]: "Một số giải pháp chủ yếu phát triển vận tải thủy nội địa vận chuyển container ở Nam Bộ".
Đề tài luận án phân tích phương pháp luận về tổ chức 3 vận tải thủy nội địa, thực trạng vận tải container bằng đường thủy nội địa tại Nam Bộ từ năm 2002 đến năm 2008. Đưa ra một số giải pháp chủ yếu phát triển vận tải thủy nội địa vận chuyển container ở các tỉnh Nam Bộ. - Năm 2011, nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Khoảng, tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đã nghiên cứu và bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài [21]: "Nghiên cứu phát triển cảng container đầu mối khu vực phía Nam". Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận chung về cảng container đầu mối.
Phân tích thực trạng hệ thống giao thông, hệ thống cảng biển khu vực. Từ đó xây dựng mô hình, tính toán nhu cầu, đề xuất giải pháp cơ bản để phát triển cảng container đầu mối khu vực phía Nam. - Năm 2012, tác giả Phạm Huyền Diệu chủ nhiệm đề tài NCKH cấp Bộ [26]: “Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lúa gạo nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2011 - 2020”. Đề tài đã phân tích, đánh giá tổng quan thị trường lúa gạo và vị thế ngành lúa gạo của Việt Nam.
Một mặt, phân tích những vấn đề nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo. Mặt khác, đưa ra quan điểm về định hướng, đề xuất các giải pháp đổi mới thể chế xuất khẩu gạo giai đoạn từ 2010 - 2020. - Tháng 11 năm 2013, tại Hội thảo và triển lãm quốc tế về "Hậu cần vận tải hàng hải Việt Nam 2013" tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bản báo cáo của TS.
Nguyễn Văn Sơn với nội dung [46]: "Bàn về việc hoàn thiện chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam", đã tập trung đề cập những hạn chế tình hình sản xuất, chế biến, xuất khẩu gạo của Việt Nam. Những điểm cần hoàn thiện, bổ sung, để nâng cao tính cạnh tranh của hàng gạo xuất khẩu trên thị trường thế giới trong tương lai, tham gia tích cực hơn vào chuỗi cung ứng gạo toàn cầu. Tình hình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài: - Năm 1992, nghiên cứu sinh Phạm Văn Cương, tại Học viện Hàng hải Quốc gia Xanh-Petecbua, Liên bang Nga, đã nghiên cứu và bảo vệ thành công 4 luận án tiến sĩ về đề tài "Tối ưu hóa hệ thống công nghệ vận tải hàng hoá thẳng sông - biển trên hướng Bắc - Nam của Việt Nam ". - Tác giả Gergardt Muller, năm 2000 với đề tài "Các phương thức vận tải hàng hóa trong vận tải đa phương thức", đã phân tích, đánh giá ưu điểm, nhược điểm các phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển, đường sắt, đường bộ, đường sông, tham gia vận tải đa phương thức.
Mối quan hệ giữa các phương thức trong hệ thống vận tải hàng hóa. Kellenies (Mỹ), năm 2005 với đề tài "Hiện đại hóa vận tải thủy nội địa", trình bày tầm quan trọng của vận tải thủy nội địa trong vận tải đa phương thức, sự phát triển phương tiện vận tải thủy nội địa và hệ thống sông ngòi. Phân tích xu hướng phát triển của công nghệ hệ thống vận tải trong tương lai, nghiên cứu sự phát triển của từng phương thức vận tải, gồm đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường hàng không, đường sắt. Tóm lại: Qua phân tích một số công trình nghiên cứu như trên, nhận xét rằng: Xét trên góc độ về tối ưu hoá hệ thống vận tải gạo xuất khẩu của Việt Nam, đề tài luận án tiến sĩ: “Tối ưu hoá hệ thống vận tải gạo xuất khẩu của Việt Nam”, không trùng lặp với các công trình khoa học khác đã công bố.
Hơn nữa, việc xây dựng các mô hình tổng quát, mô hình toán kinh tế và ứng dụng vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu cụ thể, sẽ đưa ra kết quả nghiên cứu có tính mới, có tính đặc thù, vì vậy có những đóng góp nhất định về mặt lý luận hay thực tiễn của khoa học chuyên ngành. Mặt khác, việc nghiên cứu vấn đề này luôn mang tính thời sự và tính thực tiễn, đặc biệt quan trọng đối với nước ta, bởi vì, là nước nằm trong nhóm ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới liên tục trong nhiều năm qua. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài là tối ưu hóa hệ thống vận tải hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Để đạt mục đích này, nghiên cứu sinh thực hiện các nhiệm vụ sau: 5 - Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận khoa học về tối ưu hóa hệ thống vận tải gạo xuất khẩu.
- Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống vận tải gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện nay và dự báo trong tương lai theo từng giai đoạn. Từ đó lựa chọn các tham số (hay các tiêu chí) cơ bản để xây dựng hệ thống vận tải gạo xuất khẩu tối ưu.