CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài Tại Việt Nam sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hiện đang là chương trình mục tiêu của quốc gia về tiết kiệm năng lượng và Luật sử dụng năng lương tiết kiệm và hiệu quả được ban hành áp dụng kể từ ngày 01/01/2011. Chính phủ kêu gọi các ngành, các cấp cùng mọi người dân tích cực tham gia thực hiện cụ thể là, trong những năm qua, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời … nhằm đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho nhân dân. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không những giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho khách hàng sử dụng điện mà đối với ngành điện hiện nay, giảm giá thành, giảm chi phí đầu tư cho các công trình cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày một tăng cao của đất nước, đồng thời giảm phát thải, bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên của đất nước, thực hiện phát triển kinh tế xã hội bền vững. Song song với sự phát triển kinh tế chính trị xã hội của một quốc gia, ngành điện phải phát triển đi trước một bước mới kéo theo sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, sự biến động của ngành điện có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của quốc gia.
Hiện nay, lưới điện phân phối 22/0.4 kV được rãi đều trên diện rộng ở tất cả các tỉnh thành, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo. Do đó việc truyền tải năng lượng trên đường dây đến các hộ tiêu thụ làm sao phải đảm chất lượng điện năng, giảm thất thoát sản lượng điện năng trên đường dây là điều quan tâm nhất đối với ngành điện hiện nay. Trong khi đó hiện nay thì nhu cầu phát triển phụ tải của khách hàng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng càng cao, đòi hỏi ngành điện phải đáp HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 5 Luan van Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên ứng theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước đặc biệt là các khu vực phát triển kinh tế của tỉnh, huyện … Để giải quyết vấn đề trên, phía ngành điện cũng đưa ra rất nhiều giải pháp như tái cấu trúc lưới điện, xây dựng lưới điện compact, bọc hóa lưới điện, điều chỉnh điện áp, bù công suất phản kháng … góp phần ổn định lưới điện, vận hành kinh tế lưới điện sao cho hiệu quả nhất trong vấn đề cấp điện liên tục và ổn định.
Đặc thù phụ tải của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng, phụ tải của hệ thống điện có các giờ cao điểm trong ngày từ 9h30’ đến 11h30’ và từ 17h00’ đến 20h00’ các ngày từ thứ 2 đến Thứ 7 hàng tuần, giờ thấp điểm từ 22h00’ đến 4h00’ và giờ bình thường là các giờ còn lại, ngày Chủ Nhật từ 4h00’ đến 22h00’ đêm, do đó Bộ công thương đã ban hành Thông số 16/2014/TT-BCT ngày 29/5/2014 được áp dụng giá bán điện cho các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ với 3 biểu giá rõ rệt là giờ bình thường 13h, giờ cao điểm 5h và giờ thấp điểm 6h, chính vì giá điện chênh lệch lớn giữa giờ cao điểm và giờ thấp điểm nguyên do là phụ tải tại giờ cao điểm cũng chênh lệch rất lớn so với phụ tải giờ thấp điểm, do đó công suất phụ tải thường bị thiếu công suất phản kháng vào giờ cao điểm và thừa công suất phản kháng vào giờ thấp điểm. Xuất phát từ các lý do trên, Tổng Công ty Điện lực miền Nam (SPC) đã giao cho các Công ty Điện lực tính toán dung lượng bù và lắp đặt các thiết bị bù trên lưới điện 22/0.4 kV sao cho đúng trọng tâm phụ tải, giảm sản lượng điện năng thất thoát, đảm bảo chất lượng điện năng và vận hành kinh tế lưới điện một cách hiệu quả nhất trong đó có Công ty Điện lực Bến Tre. Chính vì vây ̣ đề tài “Tối ưu hóa công suất phản kháng để vận hành kinh tế lưới điện phân phối thuộc trạm biến áp 110 kV Bến Tre’’ được chọn để nghiên cứu, đây là đề tài được giới hạn tại tỉnh Bến Tre, tuy nhiên nếu thực hiện tốt công tác bù công suất phản kháng, vận hành kinh tế lưới điện, đảm bảo chất lượng điện năng, giảm sản lượng thất thoát điện năng theo chủ trương chung của ngành điện là góp phần rất lớn đối với HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 6 Luan van Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên sự phát triển của ngành điện, phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá hiện trạng bù công suất phản kháng hiện hữu trên lưới điện phân phối của Bến Tre.
- Tìm hiểu các chế độ bù công suất phản kháng trên lưới điện. - Xây dựng tiêu chí bù vô công, tính toán công suất bù hợp lý và chạy chương trình PSS/ADEPT để chọn vị trí lắp đặt tối ưu.3 Giới hạn của đề tài Nghiên cứu và áp dụng bù công suất phản kháng cho lưới điện phân phối các phát tuyến thuộc trạm 110 kV Bến Tre.4 Phương pháp nghiên cứu - Tham khảo tài liệu - Phân tích, tổng hợp và đề xuất giải pháp bù hiệu quả - Chạy phần mềm PSS/ADEPT để chạy thử bài toán bù công suất phản kháng tối ưu trên lưới điện 1.5 Bố cục luận văn Các nội dung chính trong luận văn được phân thành 5 chương thứ tự cụ thể như sau: Lời mở đầu - Chương 1: Tổng quan về đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết bù công suất phản kháng - Chương 3: Đánh giá thực trạng công tác lắp đặt tụ bù trong Công ty Điện lực Bến Tre - Chương 4: Phân tích và tính toán dung lượng bù - Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 7 Luan van Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên 1.6 Hướng nghiên cứu và tài liệu tham khảo 1.1 Trong nước Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề tối ưu hóa công suất phản kháng trên lưới điện: 1. Giáo trình biên soạn tập huấn phần mềm phân tích và tính toán lưới điện PSS/ADEPT do PGS.TS Nguyễn Hữu Phúc Trường Đại học Bách Khoa TPHCM- Công ty Điện lực 2, 2007.
Nội dung hướng dẫn sử dụng phần mềm và phân tích dữ liệu lưới điện từ chương trình PSS/ADEPT. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phước Lộc về Tối ưu hóa vị trí thiết bị bù trong mạng phân phối do PGS.TS Quyền Huy Ánh hướng dẫn năm 2014. Nội dung luận văn chưa phân tích sâu về dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù cũng như việc tính toán lợi ích giảm tổn thất điện năng và thời gian thu hồi vốn. Nhận xét: Công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề xuất và phân tích sâu về dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù tối ưu cho lưới điện.2 Ngoài nước Các nghiên cứu liên quan đến bài báo nước ngoài.Power Transfer Limit of Rural Distribution Feeder.
Nội dung của bài báo có liên quan đến Lắp thiết bị bù để duy trì điện áp và công suất khi truyền tải đi xa đến các vùng nông thôn, bài báo này cũng không có phân tích sâu về dung lượng và vị trí bù tối ưu để giảm tổn thất điện năng 2. Noor Fazilah Ayu Suhurani. Analysis of technical losses in distribution line. Bài báo này cũng có liên quan đến vấn đề giảm tổn thất điện năng trên lưới điện, có dùng phần mềm PSS/ADEPT để phân tích, có phân tích về tổn thất máy biến áp và tổn thất đường dây phân phối, vẫn chưa phân tích sâu về dung lượng và vị trí bù tối ưu để giảm tổn thất điện năng Nhận xét: Công trình nghiên cứu nêu trên có liên quan đến vấn đề tổn thất điện năng của lưới điện phân phối nhưng cũng chưa nêu bậc được cách chọn dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù tối ưu cho lưới điện.
HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 8 Luan van Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG 2.1 Tổng quan bù công suất phản kháng trên lưới điện phân phối 2.1 Giới thiệu chung Trong quá trình vận hành truyền tải và sử dụng điện, đối với một số phụ tải ngoài công suất tác dụng P thì cần có công suất phản kháng Q, mặc dù không sinh ra công nhưng cần thiết để tạo ra từ trường, một yếu tố trung gian trong quá trình chuyển hóa điện năng. Sự truyền tải công suất phản kháng trên đường dây cũng như trong máy biến áp sẽ làm xấu đi các chỉ số kinh tế - kỹ thuật của lưới điện. Do đó vấn đề đặt ra là giảm sự truyền tải công suất phản kháng trên đường dây và các phẩn tử có dòng điện chạy qua càng nhiều càng tốt.
Để giảm truyền tải công suất phản kháng trong lưới điện, ta có thể đặt các thiết bị bù một chiều (dùng tụ điện tĩnh bù ngang) hoặc thiết bị bù hai chiều (máy bù tĩnh - SVC hay máy bù đồng bộ) nhằm cung cấp thêm công suất phản kháng cho lưới điện tại các vị trí gần phụ tải gọi là bù công suất phản kháng.2 Bù cố định và bù ứng động Bù cố định là bù chung cho mọi chế độ làm việc của phụ tải được tính toán sao cho thỏa mãn mọi chế độ vận hành, trong vận hành các thiết bị bù này không điều chỉnh thay đổi được. Bù điều chỉnh là khi lắp đặt tụ bù ta có thể điều chỉnh theo từng chế độ vận hành, nghĩa là các thiết bị bù có thể thay đổi khả năng làm việc theo yêu cầu của từng chế độ, trong vận hành các thiết bị này chúng ta có thể điều chỉnh công suất được. Bù cố định có suất đầu tư rất thấp, ít sự cố, nhưng chỉ tính toán công suất bù ở chế độ cực tiểu để tránh hiện tượng quá bù. Vì vậy không đáp ứng được công suất phản kháng ở các chế độ khác khi tải Max hoặc Min.
Bù điều chỉnh thì đáp ứng được nhu cầu công suất phản kháng ở mọi chế độ nhưng có suất đầu tư rất cao và dễ xảy ra sự cố HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 9 Luan van Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên do số lần đóng cắt thường xuyên theo từng chế độ vận hành của lưới điện.