CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ GPRS 1.1 TRIỂN KHAI GPRS TRÊN THẾ GIỚI Tình hình triển khai GPRS hiện nay: • 44 quốc gia chấp nhận triển khai GPRS. • 78 nhà cung cấp trên toàn thế giới thỏa thuận về hệ thống thương mại GPRS. • 17 nhà cung cấp thử nghiệm GPRS (ở cả Anh và Mỹ). Các dịch vụ GPRS phổ biến trong tương lai: 1.
Thư điện tử 2. Các dịch vụ thông tin 4. Tìm kiếm việc làm 5. Truy cập LAN từ xa 6.
GIỚI THIỆU GPRS 1.1 Định nghĩa công nghệ GPRS Mạng GPRS được Viện tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu ETSI phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ GSM. GPRS cung cấp các dịch vụ chuyển mạch gói với các tốc độ khác nhau, về mặt lý thuyết tốc độ này có thể lên tới 171,2 kbps. Tuy nhiên các hệ thống thương mại hiện nay có thể hỗ trợ tốc độ tối đa lên tới 115kbps. Tốc đ ộ tuỳ thuộc kiểu mã hoá và mức chất lượng tín hiệu của mạng GSM.
GPRS sử dụng phương thức chuyển mạch gói cho phép sử dụng hiệu quả tài nguyên hơn so với phương thức chuyển mạch kênh truyền thống, tài 2 nguyên chỉ được sử dụng khi có yêu cầu và nhiều người sử dụng có thể chia sẻ chung một kênh vật lý. GPRS hoạt động dựa trên nền của mạng GSM, cung cấp dịch vụ chuyển mạch gói định hướng tới những người sử dụng. GPRS chia sẻ dung lượng kênh vô tuyến của hệ thống GSM và dựa trên các phần tử mạng GSM như BSC (Base Station Controller: Bộ điểu khiển trạm gốc), đ ồng thời sử dụng thêm một số phần tử mạng mới nhằm quản lý tốt hơn quá trình truyền các gói tin định hướng. Các thành phần mới bao gồm: PCU (Packet Control Unit: Khối điều khiển gói), SGSN (Serving GPRS Support Node: Nút hỗ trợ dịch vụ GPRS), GGSN (Gateway GPRS Support Node: Nút hỗ trợ dịch vụ GPRS cổng).
SGSN điều khiển hàng đợi và quản lý các mức chất lượng dịch vụ (QoS), GGSN cung cấp phương tiện truy nhập tới các mạng số liệu bên ngoài như mạng Internet, mạng chuyển mạch gói công cộng. Một đặc đ iểm quan trọng của mạng GPRS là phân loại người sử dụng theo mức QoS, điều này tạo cơ sở cho việc ấn định dung lượng kênh giữa những người sử dụng khác nhau. Khi tài nguyên bị quá tải, mạng không thể cung cấp cho tất cả các thuê bao, việc ấn định kênh sẽ phụ thuộc vào thứ tự ưu tiên. Mức QoS phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố của mạng ở cả đường lên(Uplink: MS ->BTS) và đường xuống (Downlink: BTS ->MS), bao gồm: các kênh số liệu được ấn đ ịnh cho người sử dụng, phương tiện truy nhập, việc truyền lại khi phát hiện lỗi hoặc mất gói.
Các ưu điểm của mạng GPRS: - Cho phép giảm thời gian kết nối, tốc độ truyền tải thông tin cao. - Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vô tuyến. - Hỗ trợ các giao thức mạng chuyển mạch gói hiện nay như X25, IP. - Tính cước thông tin dựa trên lượng thông tin truyền tải, không dựa trên thời gian truy nhập.
Các đặc điểm của GPRS - Đưa ra các sơ đồ mã hóa giao diện mới - Đưa ra khái niệm Chất lượng dịch vụ (QoS) - Hỗ trợ truyền dữ liệu tốc độ cao và thấp (9.2kbps) - Hỗ trợ các kiểu truyền dữ liệu đa dạng (CONS/CNLS – ACK/UNACK) - Hỗ trợ đa giao thức dữ liệu gói (PDPs) - Hỗ trợ SMS qua GPRS - Cho phép chia sẻ các chức năng điều khiển GSM 1. GPRS pha 1 và 2 Để quản lý tính phức tạp của mạng GPRS, ETSI đã định nghĩa 2 pha. Pha đầu bao gồm các thành phần cung cấp dịch vụ chuyển mạch gói: - Các dịch vụ truyền dữ liệu gói không có hướng (IP) và có hướng (X. - Các thực thể mạng GPRS (kết hợp địa chỉ IP tĩnh và/ hoặc địa chỉ động).
- Bảo mật GPRS riêng biệt, dùng một thuật toán mã hóa mới đặc biệt thích hợp với các dữ liệu dạng gói. - Quản lý chặn và kết thúc cuộc gọi, hiển thị cuộc gọi. - Hỗ trợ SMS qua GPRS - Hỗ trợ cho tính cước GPRS - Giới hạn chất lượng dịch vụ Pha 2: Vẫn tiếp tục phát triển mạng với những bổ sung: - Các dịch vụ điểm tới đa điểm - Dịch vụ IP di động GPRS - Modem GPRS và ISDN - Hỗ trợ Chất lượng dịch vụ 4 - Các thủ tục tính cước mới - Truy cập tới các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và Intranet. Một điều cần lưu ý rằng không phải tất cả các dịch vụ liệt kê ở phần GPRS pha 2 đều được ETSI thực hiện.
Các đặc điểm chính về mạng và người dùng GPRS 1.1 Các tính năng chính về mạng GPRS + Chuyển mạch gói: GPRS liên quan tới mạng chuyển mạch gói và mạng GSM đang tồn tại. Điều này cho phép người dùng chọn giữa các dịch vụ chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh. Thông tin của người sử dụng được tách ra riêng rẽ nhưng các gói có liên quan và việc truyền dẫn qua mạng không nhất thiết phải đi trên cùng một tuyến. Tại nơi nhận, các gói được sắp xếp và được tập hợp lại trước khi được chuyển đến cho người nhận.
Mạng Internet cũng hoạt động tương tự như vậy. + Sử dụng tài nguyên vô tuyến hiệu quả: Công nghệ dữ liệu chuyển mạch kênh GSM (CSD) yêu cầu một kênh dành riêng để truyền dữ liệu theo cách như một cuộc thoại. Nhưng không phải lúc nào dữ liệu cũng được chuyển qua mạch đó ví dụ khi gửi một tin nhắn trên mạng. GPRS chỉ gửi các gói dữ liệu khi chúng được yêu cầu gửi.
Do đó, một vài người dùng có thể dùng chung một kênh đơn để truyền dữ liệu gói. Điều đó có nghĩa là nhiều người dùng GPRS có thể truy cập vào mạng mà không cần tăng tài nguyên mạng, mặc dù còn phụ thuộc vào ứng dụng được dùng và tốc độ dữ liệu yêu cầu. + Định tuyến tài nguyên động: Định tuyến khe thời gian động cho phép sử dụng tài nguyên tối ưu bằng cách định tuyến các khe thời gian động cho các yêu cầu thoại hoặc dữ liệu. Có ba thuật toán mã hóa cho phép thay đổi tốc độ dữ liệu tuỳ thuộc vào chất 5 lượng đường truyền vô tuyến.
Thêm vào đó, cả ba chế độ hoạt động mạng mới cho các tin nhắn dùng cùng một kênh nhắn tin trên mạng chuyển mạch gói (PS) và chuyển mạch kênh (CS). + Mạng Internet: Hiện nay, người dùng di động chỉ có thể truy cập Internet qua WAP và bị giới hạn chỉ trong các trang Web có hỗ trợ WAP. Tiến tới GPRS là tiềm năng cung cấp cho người dùng di động các dịch vụ Internet như đối với người dùng máy tính. Những người dùng GPRS dùng cùng một giao thức Internet (TCP/IP).
Do đó, cùng với việc thông qua các giao thức IP di động (sẽ được nói tới trong phần sau), cho phép người dùng di động có các địa chỉ IP riêng và trở thành những mạng con của Internet. Các đặc điểm chính về người dùng GPRS + Tốc độ: GPRS có thông lượng truyền dữ liệu tối đa theo lý thuyết là 171.2 kbps, nghĩa là nhanh gấp 3 lần so với tốc độ truyền thống qua mạng điện thoại công cộng và gấp 10 lần so với truyền dữ liệu qua chuyển mạch kênh truyền thống. + Tính tức thời: Thực tế GPRS luôn “sẵn sàng” tuỳ thuộc vào vùng được phủ sóng và do đó dữ liệu có thể gửi và nhận mà không cần phải “quay số” + Đồng thời: Dùng chế độ GPRS để đồng thời thực hiện cuộc gọi và truyền dữ liệu gói GPRS. + Các ứng dụng được cải tiến và các ứng dụng mới : Tốc độ dữ liệu tăng do GPRS cho phép các ứng dụng chiếm nhiều băng thông (ví dụ như các luồng video) được đưa vào mạng GSM.
Trước kia, các ứng dụng này không phù hợp với môi trường di động do tốc độ dữ liệu qua 6 CSD thấp. GPRS cũng cho phép sử dụng các dịch vụ như SMS và WAP hiệu quả hơn. + Khả năng đáp ứng: Các dịch vụ GPRS được đặt ở mức giá hấp dẫn người tiêu dùng nhưng vẫn đủ cho các nhà đầu tư thu hồi lại vốn. Thêm vào đó, bảng tính cước cũng rất linh hoạt, phù hợp với đa số yêu cầu của người sử dụng.
Những giới hạn của GPRS + Tốc độ dữ liệu thấp hơn dự kiến: Để đạt được tốc độ dữ liệu tối đa theo lý thuyết đòi hỏi người dùng phải sử dụng tất cả 8 khe thời gian trên giao diện giao diện mà không cần kiểm soát lỗi. Điều này cũng khó xảy ra vì những lý do sau đây: - Khó có thể đặt tất cả 8 khe thời gian vào mỗi sóng mang dữ liệu được. - Hầu hết các máy di động có hỗ trợ GPRS chỉ hỗ trợ tối đa là 3 khe thời gian. Kết quả là, tốc độ dữ liệu theo lý thuyết chỉ đạt được khi thực hiện ở EDGE hoặc UMTS.
+ Công suất cell: Mặc dù GPRS có thể sử dụng công suất thừa trên giao diện vô tuyến, nhưng nó cũng yêu cầu định vị các khe thời gian như với người dùng thoại. Có thể nảy sinh sự xung đột giữa mức dịch vụ yêu cầu bởi người dùng thoại và các người dùng GPRS khác. + Công nghệ phân đoạn tối ưu: Hiện nay giao diện không gian dùng thuật toán Gaussian Minimum Shift Keying (GMSK). Các công nghệ modul ngày càng hiệu quả hơn (như 8PSK dùng công nghệ EDGE) làm tăng tốc độ dữ liệu (gấp 3 lần) mà không cần tăng tài nguyên giao diện không gian.
7 + Trễ truyền dẫn: GPRS bị giới hạn bởi các tài nguyên mạng và ứng dụng của các cấp đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao cần nhiều tài nguyên sẽ không đạt được trong thời gian đầu của GPRS. Nó không đảm bảo định tuyến bằng mỗi gói dữ liệu và trễ khi phải truyền dẫn lại các gói tin bị lỗi. Do đó, các trễ truyền dẫn không được đảm bảo, và như vậy, nó phù hợp với công nghệ dữ liệu chuyển mạch kênh như HSCSD hơn các ứng dụng thời gian thực. + Không giữ và gửi đi Cơ chế hoạt động của GPRS không như SMS - các tin nhắn được lưu lại cho tới khi người nhận sẵn sàng nhận nó.
Các gói không nhận được thường bị loại bỏ.3 KỸ THUẬT GPRS VÀ CÁC GIAO DIỆN Kiến trúc tổng quan của mạng GPRS được mô tả trên Hình 1. Để có thể hỗ trợ được dịch vụ GPRS, mạng GSM được bổ xung thêm hai phần tử mạng cơ bản đó là: SGSN và GGSN. Các phần tử mạng cơ bản bao gồm: - SGSN - Nút hỗ trợ dịch vụ GPRS. - GGSN - Nút hỗ trợ dịch vụ GPRS cổng.
- PCU - Khối điểu khiển gói.