Luận văn thạc sĩ tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước trong luật hình sự việt nam

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước trong luật hình sự việt, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2015

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam

1.2. Khái niệm về sở hữu nhà nước, tài sản của Nhà nước

1.3. Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

1.4. Ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam

1.5. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

1.5.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985

1.5.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999

1.5.3. Giai đoạn từ khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

1.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ, ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

2.2. Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

2.3. Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

2.4. Chủ thể của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

2.5. Mặt chủ quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

2.6. Đường lối xử lý đối với người thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước theo bộ luật hình sự năm 1999

2.6.1. Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

2.6.2. Phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng

2.6.3. Phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng

2.6.4. Hình phạt bổ sung

2.7. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với một số tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 1999

2.7.1. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS)

2.7.2. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS)

2.7.3. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS) với tội Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS)

2.7.4. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS)

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC

3.1. Thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.2. Tình hình xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.3. So sánh thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội phạm chung, tội phạm xâm phạm sở hữu và nhóm tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi

3.4. Những tồn tại, hạn chế qua thực tiễn xử lý tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.5. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.6. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.6.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.6.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.6.3. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và trình độ chuyên môn của cán bộ thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

3.6.4. Đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý tài sản công, chống lãng phí, thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và nâng cao trình độ của cán bộ quản lý

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tội Thiếu Trách Nhiệm Khái Niệm Ý Nghĩa

Tội thiếu trách nhiệm là một vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại, đặc biệt khi nó gây ra thiệt hại tài sản nhà nước. Việc quy định tội này trong luật hình sự Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa răn đe mà còn góp phần bảo vệ tài sản công, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. Tài sản nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các chức năng của nhà nước, từ cung cấp dịch vụ công đến đầu tư phát triển kinh tế. Điều 360 Bộ luật Hình sự quy định rõ về tội này, nhấn mạnh trách nhiệm của cá nhân trong việc bảo vệ tài sản. Việc xác định rõ yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm là vô cùng quan trọng để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xét xử. Hơn nữa, việc hiểu rõ khung hình phạt tội thiếu trách nhiệm giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng. Việc quy định tội này trong luật hình sự Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ tài sản nhà nước và củng cố lòng tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật.

1.1. Định Nghĩa Sở Hữu Nhà Nước và Tài Sản Công

Sở hữu nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự phát triển của xã hội. Nó thể hiện quyền của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công. Theo Bộ luật Dân sự, Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân, đại diện cho nhân dân quản lý và sử dụng. Quyền sở hữu nhà nước bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nước đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất. Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó.

1.2. Ý Nghĩa Quy Định Tội Thiếu Trách Nhiệm

Việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước trong luật hình sự có ý nghĩa to lớn. Nó góp phần bảo vệ tài sản công, ngăn ngừa thất thoát tài sảnlãng phí tài sản. Đồng thời, nó cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc quản lý và sử dụng tài sản nhà nước. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi thiếu trách nhiệm giúp củng cố lòng tin của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật.

II. Lịch Sử Phát Triển Quy Định Về Tội Thiếu Trách Nhiệm

Quy định về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, các quy định về tội này còn sơ khai. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định đã dần được hoàn thiện hơn. Đến giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay, các quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế. Việc nghiên cứu lịch sử lập pháp giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và sự phát triển của tội này.

2.1. Giai Đoạn 1945 1985 Sơ Khai và Hình Thành

Trong giai đoạn này, các quy định về tội thiếu trách nhiệm còn rất sơ khai. Do hoàn cảnh chiến tranh và những khó khăn kinh tế, việc bảo vệ tài sản nhà nước chưa được chú trọng đúng mức. Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật đã đề cập đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc quản lý tài sản công.

2.2. Giai Đoạn 1985 1999 Từng Bước Hoàn Thiện

Giai đoạn này chứng kiến sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1985, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc pháp điển hóa các quy định về tội thiếu trách nhiệm. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Việc bồi thường thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra cũng chưa được quy định rõ ràng.

2.3. Giai Đoạn 1999 Nay Sửa Đổi và Bổ Sung

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng đối với các quy định về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước. Các yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm được quy định cụ thể hơn, khung hình phạt cũng được điều chỉnh để phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập.

III. Dấu Hiệu Pháp Lý Tội Thiếu Trách Nhiệm Phân Tích Chi Tiết

Để xác định một hành vi có cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước hay không, cần phải phân tích kỹ lưỡng các dấu hiệu pháp lý của tội này. Các dấu hiệu này bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Việc xác định chính xác các dấu hiệu này là cơ sở để chứng minh tội phạm và đảm bảo tính công bằng trong quá trình xét xử.

3.1. Khách Thể Của Tội Thiếu Trách Nhiệm Là Gì

Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nướcquyền sở hữu nhà nước đối với tài sản công. Hành vi thiếu trách nhiệm xâm phạm đến sự an toàn và hiệu quả của việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Việc xác định đúng khách thể của tội phạm giúp phân biệt tội này với các tội xâm phạm sở hữu khác.

3.2. Mặt Khách Quan Hành Vi và Hậu Quả

Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm thể hiện ở hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm được giao, dẫn đến hậu quả nghiêm trọngthiệt hại tài sản nhà nước. Hành vi thiếu trách nhiệm có thể là không kiểm tra, giám sát, không tuân thủ quy trình, quy định, hoặc không có biện pháp phòng ngừa thất thoát tài sản. Hậu quả nghiêm trọng được xác định dựa trên giá trị tài sản bị thiệt hại.

3.3. Chủ Thể Của Tội Phạm Ai Chịu Trách Nhiệm

Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm là người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Người này phải có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ tài sản công, nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, dẫn đến thiệt hại. Trách nhiệm người đứng đầu cũng cần được xem xét trong trường hợp hành vi thiếu trách nhiệm xảy ra tại cơ quan, đơn vị.

IV. Đường Lối Xử Lý Tội Thiếu Trách Nhiệm Hướng Dẫn Chi Tiết

Đường lối xử lý đối với người phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt khác nhau, từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

4.1. Phạm Tội Ít Nghiêm Trọng Xử Lý Như Thế Nào

Trong trường hợp phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn. Mức phạt cụ thể sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản bị thiệt hại và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

4.2. Phạm Tội Nghiêm Trọng và Rất Nghiêm Trọng Mức Án

Đối với trường hợp phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, người phạm tội sẽ bị phạt tù có thời hạn. Mức án cụ thể sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản bị thiệt hại, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

4.3. Hình Phạt Bổ Sung Cấm Đảm Nhiệm Chức Vụ

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Hình phạt bổ sung này nhằm ngăn ngừa người phạm tội tái phạm và đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

V. Phân Biệt Tội Thiếu Trách Nhiệm Với Các Tội Khác

Việc phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước với các tội phạm khác trong Bộ luật Hình sự là vô cùng quan trọng để tránh nhầm lẫn và đảm bảo áp dụng pháp luật đúng đắn. Cần phân biệt tội này với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, tội tham ô tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

5.1. Phân Biệt Với Tội Vô Ý Gây Thiệt Hại Tài Sản

Điểm khác biệt cơ bản giữa tội thiếu trách nhiệm và tội vô ý gây thiệt hại tài sản nằm ở yếu tố lỗi. Trong tội thiếu trách nhiệm, người phạm tội biết hoặc buộc phải biết hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại, nhưng vẫn thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao. Trong khi đó, trong tội vô ý gây thiệt hại tài sản, người phạm tội không thấy trước được hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra.

5.2. Phân Biệt Với Tội Cố Ý Làm Trái Quy Định

Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng khác với tội thiếu trách nhiệm ở chỗ, người phạm tội cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, nhằm thu lợi bất chính hoặc vì động cơ cá nhân khác. Trong khi đó, người phạm tội thiếu trách nhiệm không có mục đích thu lợi bất chính, mà chỉ do sự cẩu thả, tắc trách trong công việc.

5.3. Phân Biệt Với Tội Tham Ô Tài Sản Nhà Nước

Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhà nước. Khác với tội thiếu trách nhiệm, tội tham ô có yếu tố vụ lợi và chiếm đoạt tài sản một cách trực tiếp. Người phạm tội thiếu trách nhiệm không chiếm đoạt tài sản, mà chỉ gây ra thiệt hại do không thực hiện đúng trách nhiệm.

VI. Giải Pháp Phòng Chống Tội Thiếu Trách Nhiệm Đề Xuất

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước, cần có các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này bao gồm: hoàn thiện pháp luật hình sự, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý tài sản công, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và người dân về phòng chống tội phạm.

6.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Hình Sự Sửa Đổi Bổ Sung

Cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và phù hợp với tình hình thực tế. Cần quy định cụ thể hơn về các hành vi thiếu trách nhiệm, các hậu quả nghiêm trọng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

6.2. Nâng Cao Trách Nhiệm Cơ Quan Tố Tụng

Các cơ quan tiến hành tố tụng cần nâng cao trách nhiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản nhà nước. Cần đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử.

6.3. Tăng Cường Giám Sát Quản Lý Tài Sản Công

Cần tăng cường công tác giám sát, quản lý tài sản công, chống lãng phí tài sảnthất thoát tài sản. Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, đảm bảo việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về sở hữu nhà nước, tài sản của Nhà nước Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện và phát triển song song cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Khi nói về sở hữu thì các hình thức sở hữu luôn là vấn đề đƣợc quan tâm bởi hình thức sở hữu là sự phản ánh ra bên ngoài nội dung của một chế độ sở hữu nhất định mà trong một xã hội dù dƣới bất kì một hình thức tổ chức thể chế nào cũng phải xác định một chế độ sở hữu nhất định.

Từ sự “định hƣớng” của Hiến pháp năm 1992 về chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, Chƣơng XIII, Bộ luật dân sự năm 2005 thì Nhà nƣớc ta có 06 hình sở hữu, bao gồm sở hữu Nhà nƣớc; sở hữu tập thể; sở hữu tƣ nhân; sở hữu chung; sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp. Mỗi hình thức sở hữu có các chế độ pháp lý đặc trƣng và có vai trò nhất định, trong đó sở hữu Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong các hình thức sở hữu, là nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chế độ sở hữu và hình thức sở hữu cũng đƣợc Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cụ thể. Theo quy định tại Điều 220 đến Điều 207 BLDS năm 2005 thì Nhà nƣớc là chủ sở hữu đối với tài sản của chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngƣời đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ những tƣ liệu sản xuất.

Nhà nƣớc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó. 8 z Một vấn đề quan trọng của sở hữu nhà nƣớc đó là quyền sở hữu Nhà nƣớc. Quyền sở hữu Nhà nƣớc hiểu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm: - Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nƣớc đối với những Tƣ liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất. - Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản Nhà nƣớc.

- Xác định phạm vi, quyền hạn của các cơ quan Nhà nƣớc, các doanh nghiệp do Nhà nƣớc thành lập trong việc quản lý nghiệp vụ những tài sản do Nhà nƣớc giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản lý hoặc hoạt động công ích. Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu Nhà nƣớc đƣợc hiểu là toàn bộ những hành vi mà Nhà nƣớc - với tƣ cách chủ sở hữu - thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình Nhà nƣớc “là chủ” đối với các tƣ liệu sản xuất chủ yếu và cũng tự quy định các quyền năng, nhƣng không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nƣớc là vô tận đối với tài sản mà Nhà nƣớc là chủ sở hữu. Nhà nƣớc cũng nhƣ các chủ thể khác chỉ thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép. Nhà nƣớc là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu Nhà nƣớc, Nhà nƣớc tham gia quan hệ quyền sở hữu với tƣ cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các tƣ liệu sản xuất.

Nhà nƣớc đại diện cho nhân dân nắm và quản lý toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị. Nhà nƣớc giao tài sản cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc, cơ quan Nhà nƣớc, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó. Tài sản của Nhà nƣớc rất đa dạng, tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992, 9 z Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 200 Bộ luật dân sự năm 2005 liệt kê khá rõ những loại tài sản này: Hiến pháp 1992: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nƣớc đầu tƣ vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các loại tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc, đều thuộc sở hữu toàn dân [23, Điều 17]. Hiến pháp năm 2013: Đất đai, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nƣớc đầu tƣ, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [28, Điều 53].

BLDS năm 2005: Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nƣớc bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nƣớc, núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định [26, Điều 200]. Khái niệm về tài sản của Nhà nƣớc cũng đƣợc quy định cụ thể tại Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06-03-1998 của Thủ tƣớng Chính phủ: Tài sản Nhà nƣớc là những tài sản đƣợc hình thành từ nguồn ngân sách Nhà nƣớc hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nƣớc, tài sản đƣợc xác lập quyền sở hữu của Nhà nƣớc theo quy định của 10 z pháp luật, đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời. Tài sản Nhà nƣớc khu vực hành chính sự nghiệp là những tài sản Nhà nƣớc giao cho các cơ quan Nhà nƣớc, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản lý và sử dụng gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các phƣơng tiện giao thông vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác. Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia bao gồm: a) Hệ thống các công trình giao thông vận tải; b) Hệ thống các công trình thủy lợi; c) Hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nƣớc; d) Các công trình văn hoá; đ) Các công trình kết cấu hạ tầng khác.

Tài sản Nhà nƣớc tại doanh nghiệp. Tài sản đƣợc xác lập sở hữu của Nhà nƣớc theo qui định của pháp luật, bao gồm: a) Tài sản là tang vật, phƣơng tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quĩ Nhà nƣớc và tiền phạt do vi phạm pháp luật; b) Tài sản bị chôn dấu, chìm đắm đƣợc tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác theo qui định của pháp luật là tài sản Nhà nƣớc; c) Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc biếu, tặng, 11 z đóng góp và các hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản khác cho Nhà nƣớc, tài sản viện trợ của Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ nƣớc ngoài và các tổ chức quốc tế khác. Tài sản dự trữ Nhà nƣớc. Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời (sau đây gọi chung là đất đai, tài nguyên thiên nhiên khác) [29].

Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Chế định quan trọng và chủ yếu trong LHS chính là chế định về tội phạm. Tội phạm nói chung đƣợc các nhà làm luật ghi nhận và đƣợc quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 với khái niệm nhƣ sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [25, Điều 8]. Xuất phát từ khái niệm chung về tội phạm mang tính định hƣớng này, khái niệm tội phạm đƣợc các nhà khoa học khái quát là “là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị LHS cấm), do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” 3, tr. 12 z Theo quan điểm của tác giả luận văn cho rằng, tội phạm có 5 dấu hiệu đặc trƣng bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội; tính trái pháp luật hình sự; tính có năng lực trách nhiệm hình sự; tính đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tính có lỗi.

Với cách tiếp cận này thì tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc cũng có 05 đặc trƣng cơ bản đó là: hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó bị LHS cấm, nếu thực hiện hành vi này là trái với pháp luật hình sự; hành vi này phải do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; ngƣời thực hiện hành vi phạm tội phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và cuối cùng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản phải là hành vi có lỗi với lỗi vô ý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Tội Thiếu Trách Nhiệm Gây Thiệt Hại Nghiêm Trọng Đến Tài Sản Nhà Nước: Phân Tích và Giải Pháp" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước. Tài liệu phân tích nguyên nhân, hệ quả và các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu tình trạng này, từ đó nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ tài sản công. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về vấn đề này, cũng như các biện pháp có thể áp dụng để cải thiện tình hình.

Để mở rộng kiến thức của mình, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh", nơi cung cấp cái nhìn thực tiễn từ một địa phương cụ thể. Ngoài ra, tài liệu "Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự việt nam" sẽ giúp bạn nắm bắt các khía cạnh pháp lý tổng quát hơn. Cuối cùng, tài liệu "Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố hải phòng" sẽ cung cấp thêm thông tin từ một thành phố lớn, giúp bạn có cái nhìn đa chiều về vấn đề này.