Tổng quan nghiên cứu

Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, đặc biệt là hành vi tàng trữ và vận chuyển hàng cấm, đang diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi toàn quốc và tại các địa bàn biên giới trọng điểm. Trong giai đoạn 5 năm từ 2018 đến 2022, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cao Bằng đã thụ lý và xét xử sơ thẩm 155 vụ án liên quan đến tội danh này, trong đó có tới 107 vụ (chiếm tỷ lệ 69,03%) mang tình tiết vận chuyển hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa. Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá toàn diện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời làm rõ thực tiễn xét xử nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự của tác giả Lý Quang Diệu, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đăng Doanh tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2022, tập trung nghiên cứu chuyên sâu về "Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong luật hình sự Việt Nam". Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích cơ sở lý luận, hệ thống hóa dấu hiệu pháp lý đặc trưng tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, đánh giá thực trạng xét xử 155 vụ án tại 10 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố của tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2018 - 2022, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng tư pháp. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong định tội danh và quyết định hình phạt trên tuyến biên giới dài hơn 333 km tiếp giáp với Trung Quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam, bao gồm 4 yếu tố cốt lõi: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể của tội danh là trật tự quản lý kinh tế quốc dân và chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các danh mục hàng cấm. Mặt khách quan phản ánh các hành vi cất giữ hoặc dịch chuyển bất hợp pháp các đối tượng như thuốc bảo vệ thực vật cấm (từ 50 kilôgam hoặc 50 lít trở lên), thuốc lá điếu nhập lậu (từ 1.500 bao trở lên), hoặc pháo nổ (từ 6 kilôgam trở lên) theo quy định tại khoản 1 Điều 191.

Về mặt chủ thể, nghiên cứu áp dụng lý thuyết trách nhiệm hình sự mở rộng của Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm cá nhân từ đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự (theo Điều 12) và pháp nhân thương mại (theo Điều 75). Mặt chủ quan xác định lỗi cố ý trực tiếp với động cơ vụ lợi. Ngoài ra, luận văn vận dụng lý thuyết phân hóa trách nhiệm hình sự khi làm rõ bước chuyển lịch sử từ việc gộp 4 hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trong Điều 155 Bộ luật Hình sự 1999 thành 2 tội danh độc lập tại Điều 190 và Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 155 bản án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng và các Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử trong mốc thời gian 5 năm, từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2022. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling) đối với 100% hồ sơ vụ án đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến Điều 191 trên địa bàn tỉnh, đảm bảo dữ liệu không bị sai lệch hay thiên vị.

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phương pháp thống kê tội phạm học nhằm lượng hóa cơ cấu vụ án và loại hình tang vật; phương pháp phân tích án lệ và tổng hợp thực tiễn nhằm phát hiện sai sót trong định tội danh; phương pháp so sánh luật học đối chiếu quy định giữa các thời kỳ lập pháp (1985, 1999 và 2015). Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa phân tích định tính các quy phạm pháp luật với dữ liệu định lượng thực tế tại 10 địa bàn huyện, thành phố vùng biên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm qua biên giới chiếm tỷ trọng áp đảo. Trong tổng số 155 vụ án xét xử sơ thẩm giai đoạn 2018 - 2022, có 107 vụ (chiếm 69,03%) diễn ra tại khu vực biên giới hoặc vận chuyển từ biên giới vào nội địa. Tang vật chủ yếu là pháo nổ với hơn 70% số vụ thu giữ tập trung vào các tháng giáp Tết Nguyên đán.

Thứ hai, cơ cấu khung hình phạt áp dụng có sự phân hóa rõ rệt. Khoảng 62,58% số vụ án (97 vụ) được xét xử theo khoản 1 Điều 191 với khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù hoặc phạt tiền từ 50 triệu đến 300 triệu đồng. Khung tăng nặng tại khoản 2 (phạt tù từ 2 đến 5 năm) chiếm 32,90% (51 vụ), chủ yếu do tình tiết phạm tội có tổ chức hoặc qua biên giới. Khung tăng nặng đặc biệt tại khoản 3 chỉ chiếm 4,52% (7 vụ).

Thứ ba, yếu tố nhân thân xấu đóng vai trò định tội quan trọng. Luận văn ghi nhận khoảng 15% các trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù khối lượng hàng hóa chưa đạt định lượng tối thiểu (dưới 1.500 bao thuốc lá hoặc dưới 6 kilôgam pháo), nhưng đối tượng đã có tiền sự xử phạt vi phạm hành chính từ 10 đến 12 triệu đồng hoặc có tiền án chưa được xóa án tích.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội đặc thù. Tỉnh Cao Bằng có địa hình đồi núi hiểm trở chiếm hơn 90% diện tích cùng hệ thống đường mòn, lối mở dày đặc dọc tuyến biên giới 333 km. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 94% dân số toàn tỉnh (trong đó dân tộc Tày 41%, Nùng 31,1%, H'Mông 10,1%, Dao 10%), đời sống một bộ phận người dân còn nhiều khó khăn, dễ bị lôi kéo vận chuyển thuê với mức tiền công từ 200.000 đến 500.000 đồng mỗi chuyến.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015, phương thức phạm tội tại Cao Bằng giai đoạn 2018 - 2022 có sự chuyên môn hóa cao hơn. Các đối tượng thường ngụy trang hàng cấm trong phương tiện vận chuyển hành khách hoặc chia nhỏ tang vật để né tránh định lượng hình sự. Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu tang vật (pháo nổ chiếm 72%, thuốc lá điếu nhập lậu 21%, thuốc bảo vệ thực vật và hàng cấm khác 7%) cùng bảng thống kê so sánh tỷ lệ áp dụng hình phạt tù giam so với án treo qua từng năm từ 2018 đến 2022.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật: Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, thống nhất tiêu chí giám định đối với các danh mục hàng cấm mới và cách tính giá trị thu lợi bất chính, hoàn thành trong giai đoạn 2023 - 2024 để triệt tiêu 100% tình trạng vướng mắc định danh.

  2. Tăng cường phối hợp kiểm soát liên ngành: Bộ đội Biên phòng, Hải quan và Công an tỉnh Cao Bằng cần thiết lập quy chế chia sẻ thông tin tuần tra 24/7 trên toàn tuyến biên giới 333 km, đặt mục tiêu giảm từ 25% đến 30% số vụ vận chuyển pháo nổ và hàng lậu qua các cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, Trà Lĩnh, Sóc Giang và Pò Peo trong giai đoạn 2023 - 2025.

  3. Đẩy mạnh tuyên truyền và hỗ trợ sinh kế: Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng và các tổ chức đoàn thể triển khai tối thiểu 50 đợt tuyên truyền pháp luật lưu động bằng tiếng mẹ đẻ cho đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, H'Mông, Dao hàng năm, đồng thời tăng cường giải ngân các gói vốn vay ưu đãi giải quyết việc làm cho hơn 530 nghìn dân cư trên địa bàn trong lộ trình 2023 - 2026.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn cán bộ tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho 100% Thẩm phán, Thư ký và Kiểm sát viên hai cấp về kỹ năng phân hóa vai trò đồng phạm và đánh giá chứng cứ hiện trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân: Tài liệu cung cấp cơ sở đối chiếu thực tiễn xét xử 155 vụ án sơ thẩm, hỗ trợ nhận định chính xác ranh giới giữa Điều 190 và Điều 191, tránh tình trạng xử phạt không tương xứng với tính chất hành vi.

  2. Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc Cơ quan Công an: Hỗ trợ chuẩn hóa phương pháp thu thập chứng cứ định lượng tang vật (thuốc lá từ 1.500 bao, pháo nổ từ 6 kilôgam) và xác minh tiền án, tiền sự trong các vụ án vùng biên.

  3. Luật sư và người bào chữa: Giúp xây dựng luận cứ pháp lý vững chắc, nhận diện các tình tiết giảm nhẹ hoặc các điểm chưa thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

  4. Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên ngành Luật: Cung cấp nguồn tham khảo học thuật giá trị với hệ thống số liệu thực tiễn 5 năm (2018 - 2022) phục vụ nghiên cứu và giảng dạy môn Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Sự khác biệt bản chất giữa tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191) và tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190) là gì? Sự khác biệt cốt lõi nằm ở mục đích phạm tội. Hành vi tàng trữ, vận chuyển theo Điều 191 mang tính chất cất giữ, chuyển dịch trái phép mà không nhằm mục đích bán lại kiếm lời hay tạo ra sản phẩm mới; khung hình phạt tối đa của Điều 191 là 10 năm tù, thấp hơn mức 15 năm tù của Điều 190.

Định lượng tối thiểu đối với thuốc lá điếu nhập lậu để bị xử lý hình sự theo Điều 191 là bao nhiêu? Theo điểm b khoản 1 Điều 191, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao sẽ cấu thành tội phạm cơ bản (phạt tiền từ 50 triệu đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm). Nếu dưới 1.500 bao, người vi phạm chỉ bị xử lý hình sự khi đã bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án về nhóm tội này.

Người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này không? Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 191, do điều luật này không thuộc nhóm các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê bắt buộc.

Pháp nhân thương mại vi phạm Điều 191 Bộ luật Hình sự bị áp dụng chế tài như thế nào? Theo khoản 5 Điều 191, pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 9 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm, hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo Điều 79 nếu gây thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội.

Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là tội phạm có cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức? Đây là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi đối tượng thực hiện hành vi cất giữ hoặc dịch chuyển hàng cấm đạt ngưỡng định lượng quy định (ví dụ từ 6 kilôgam pháo nổ trở lên), không bắt buộc phải có hậu quả vật chất thực tế xảy ra.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện lý luận về 4 yếu tố cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Khảo sát thực chứng 155 bản án sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 - 2022, chỉ rõ 69,03% số vụ mang yếu tố xuyên biên giới.
  • Phát hiện các vướng mắc phổ biến trong việc xác định định lượng hàng cấm mới và đánh giá dấu hiệu nhân thân tiền án, tiền sự.
  • Kiến nghị 4 nhóm giải pháp đồng bộ về lập pháp, phối hợp tuần tra trên tuyến biên giới 333 km và nâng cao nghiệp vụ tư pháp trong lộ trình 2023 - 2026.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu khoa học thực tiễn giá trị cho công tác định tội danh tại 10 địa bàn huyện, thành phố và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng toàn quốc.

Đóng góp chính của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ giữa lý luận hình sự hiện đại và thực tiễn xét xử vùng biên giới Cao Bằng, tạo tiền đề vững chắc cho việc nâng cao chất lượng xét xử trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2023 đến năm 2026. Các nhà nghiên cứu, cán bộ tư pháp và học viên quan tâm có thể khai thác các luận điểm và dữ liệu chuyên sâu từ công trình này để phục vụ trực tiếp cho hoạt động chuyên môn và học thuật.