Chương I MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HINH SU NAM 2015 VE TOI TANG TRU, VAN CHUYEN HANG CAM 1. Khai niém về tội tàng trữ, vận chuyển hang cắm. Khái niệm hàng cấm Hang cấm là cụm từ mà được sử dụng rất nhiều trong đời sống, cũng như trong kinh tế xã hội. Nhưng để nắm rõ bản chất của từ này trong khoa học hình sự thì chưa có cách hiểu chung và giải thích thống nhất.
Muốn tìm hiểu hàng cam 1a gi, ching ta phai phan tich thong qua y nghia cua cau chtr của hai từ đó. Theo tir dién tiéng Viét: “hang” - 1a san pham dé mua ban, trao đổi; “cắm”- là không được phép làm gì đó, hoặc không được phép tôn tại. Nhu vay, hang cam có thê hiểu là những sản phẩm, hàng hóa không cho phép tồn tại hay mua bán. Theo định nghĩa ở trên thì hàng hóa phải đáp ứng được hai điều kiện, đó là sản phẩm do lao động tạo ra và sản phâm đó phải dùng được vào mục đích buôn bán trên thị trường.
Tuy vậy, mỗi hàng hóa lại có một tính chất riêng. Có những loại hàng hóa đặc biệt mà việc sản xuất, vận chuyền, sử dụng các loại hàng hóa đó trên thị trường gây ra những ảnh hưởng xâu đến sức khỏe con người, môi trường, xã hội, gây ra các ảnh hưởng lớn đến quốc phòng - an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa dân tộc vì vậy Nhà nước cần phải độc quyền quản lý loại hàng hoá đó. Trong xã hội gọi những hàng hoá này là “hàng cắm” hay “hàng quốc cắm”. Từ điển Luật học cũng giải thích răng: “hàng cấm là hàng hoá bị Nha nước cấm kinh doanh”.
Theo Khoản 6 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại thì, sản xuât, buôn bán hàng giả, hàng câm và bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng có nêu: “Hàng cấm là những mặt hàng bị cắm sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam”. Danh mục các loại hàng cấm của Việt Nam có sự thay đổi theo thời gian và thường xuyên được điều chỉnh tương thích với các đặc điểm kinh tế - xã hội. Ví dụ, trước đây, một số vật nuôi và cây trồng được phép nhập về Việt Nam nhưng hiện nay thì bị cắm. Hoặc trước đây pháo là mặt hàng được phép nhập khâu nhưng ngày nay lại bị cấm.
Hàng cấm theo pháp luật Việt Nam có thê hiểu dưới các góc độ khác nhau: - Dưới góc độ xã hội, hàng cắm được hiểu phố biến nhất là những mặt hàng đặc biệt do Nhà nước trực tiếp quản lý độc quyên, cắm sản xuất, kinh doanh. Theo triết học Mác - Lê nin hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua hoạt động trao đổi, mua bán. Hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình mà nhờ vào tính chất của nó thoả mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá ngày càng trở nên đa dạng phong phú.
Việc quản lý đối với các loại hàng hoá và các hoạt động kinh doanh liên quan đến hàng hoá ngày càng phức tạp, khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hàng hoá gây ảnh hưởng xấu tới con người, 8 môi trường và xã hội. Từ sự phát triển của tự do thương mại mà Nhà nước thống nhất quản lý những mặt hàng có tính chất đặc biệt, có những đặc tính riêng cần phải hạn chế cách ly các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán những mặt hàng đó trong xã hội. Pháp luật quy định cắm tuyệt đối với những mặt hàng khi lưu thông hoặc sử dụng có thể gây nguy hại cho an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, môi trường và sức khỏe nhân dân, vì vậy Nhà nước cần phải độc quyên quản lý loại hàng hoá đó. - Dưới góc độ kinh tế thì hàng cắm là hàng hoá nhưng thuộc loại do Nhà nước thong nhat quan ly cấm các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sản xuât, tàng trữ, vận chuyên và buôn bán.
Hàng hóa và sản xuât, buôn bán hàng hóa gắn liền với hoạt động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Việc sản xuất hàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh doanh. Qua các thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội lượng hàng hóa sản xuất ngày một nhiều và đa dạng. Có hàng hoá được tự do sản xuất, kinh doanh; có những mặt hàng do tính chất đặc thù của nó mà Nhà nước phải cắm thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, do những lợi nhuận mà các mặt hàng này đem lại, các cá nhân, tổ chức lén lút sản xuất, tàng trữ, vận chuyền, buôn bán, nếu đủ yếu tố cầu thành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyên, buôn bán hàng cắm. Mặc dù vậy, cho đến nay khái niệm hàng cam vẫn chưa có bất cứ văn bản pháp luật nào đưa ra một cách hiểu thống nhất. Trong quá trình giải quyết về loại vụ việc liên quan đến hàng cắm, một vẫn đề đặt ra đối với các cơ quan chức năng là phải hiểu rõ thế nào là hàng cắm và các loại hàng câm đề từ đó mới ra được những quyết định phù hợp, đúng đăn phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự kinh tế nói chung, tội phạm về tàng trữ, vận chuyền hàng cắm nói riêng. Dưới góc độ pháp lý, hàng cắm là đối tượng đặc biệt, được Nhà nước quản lý và xử lý đối với hành vi liên quan đến nó.
Trong pháp luật thương mại, đầu tư đều có quy định những đối tượng cắm hoạt động kinh doanh đầu tư và có các chế tài xử phạt đối với hành vi liên quan đến hàng cắm. Khoản 1 Điều 25 Luật thương mại xác định: “Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cắm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó”. Đối với pháp luật về thương mại đầu tư, các nhà làm luật không định nghĩa hàng cắm là gì mà được quy định thành danh mục cụ thể những mặt hàng cắm kinh doanh. Danh mục này do Chính phủ quy định và từng thời kỳ khác nhau thì danh mục hàng hoá cấm kinh doanh cũng thay đổi.
Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 thang 11 nam 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cắm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giải thích: “Hàng cắm” gồm hàng hóa cắm kinh doanh; hàng hóa cắm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam. Dưới góc độ pháp lý hình sự, hàng cắm được xác định là đối tượng của tội phạm về kinh tế, bị xem là đối tượng: “bất hợp pháp”. Việc lưu thông và kinh doanh đối với đối tượng này ở mức độ nhất định là hành vi tội phạm, bị pháp luật hình sự nghiêm cắm. Đề hiểu rõ về hàng cấm, ngoài việc xem xét khái niệm hàng hóa nói chung, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu các văn bản pháp luật quy định về hàng cắm và dấu hiệu nhận biết hàng cấm.
Tuy nhiên, cho trước khi BLHS năm 2015, sửa đôi, bố sung năm 2017 được ban hành, các quy định pháp lý về hàng cấm còn chưa chỉ ra khái niệm hàng cam va chưa quy định cụ thể dấu hiệu nhận biết đối tượng hàng cấm đã được điều chỉnh tại các điều luật khác với Điều 155 BLHS năm 1999. Điều này đã gây những khó khăn nhất định cho việc nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức cho đúng về hàng cấm dưới góc độ pháp lý. Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm về hàng cấm mà hàng cấm chỉ được nhắc đến một cách chung chung. Đề đưa ra 10 khái niệm đầy đủ nhất về hàng cắm dưới góc độ pháp luật hình sự cần chú ý một số nội dung cơ bản sau: Mới là hàng cấm là loại hàng hoá đặc biệt do nhà nước thống nhất quản lý và quy định cụ thể danh mục hàng hoá thuộc loại này.
Ha¡ /à danh mục hàng cam không cố định mà có sự thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau. Có nhiều loại hàng hoá có tính chất cắm vĩnh viên, cũng có những hàng hoá chi cam tam thoi. Ba la hang cam có tác hại về 10 kinh tế, có khả năng gây hại cho tính mạng, sức khoẻ con người và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của mỗi quốc gia. Bon la tuy thudc vào chế độ quản lý của mỗi quốc gia mà việc quy định các mặt hàng cắm sản xuất kinh doanh khác nhau.
Từ các phân tích ở trên, quan điểm của tác giả về hàng cấm như sau: “Hàng cam là các loại hàng hóa mà Nhà nước cam kinh doanh, trao đồi, mua bán, sản xuất, sử dụng hoặc chưa được phép sứ dụng, lưu hành ở Việt Nam, được liệt kê cụ thể trong danh mục cam cá nhân, tổ chức sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán ”. Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cắm Tội phạm nói chung hay tội tàng trữ vận chuyên hàng cắm nói riêng đều là biểu hiện xấu của xã hội, xuất phát từ mối quan hệ cung - cầu và sự phát triển kinh tế xã hội. Ở các quốc gia trên thế giới, với mong muốn bảo vệ lợi ích của đất nước mình và đồng nhất tập quán thương mại quốc tế đã và đang đưa ra những giải pháp nhằm phòng ngừa, đấu tranh và giảm thiêu tác động xấu của loại tội phạm này. Hành vi thoả mãn các yếu tố nêu trên mới được coi là tội phạm.
Hành vi tàng trữ, vận chuyên hàng cắm đề được coi là tội phạm cũng phải thoả mãn các yếu tố theo quy định của pháp luật. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cắm được quy định tại Điều 191, trong chuong XVIII — Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 2015.