CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE CÁC TOIPHAM XÂM PHAM SỞ HỮU 11. Khái niệm tội phạm xâm phạm sở hữu. Dưới góc đô phân biết tôi pham xâm phạm sỡ hữu với một số hành vi xâm phạm sở hữu khác, tuy có dầu hiệu xâm phạm sỡ hữu nhưng được coi 1a các tôi pham của nhóm tôi khác, ví dụ: Điều 303 “Tôi pha hủy công trình, cơ sở, phương tiên quan trong vẻ an ninh quốc gia", Điều 353 “Toi tham 6 tai sản". Trước hết được soi chiếu dưới góc độ khái niệm tôi phạm.
Theo đó, tôi pham xêm phạm sở hữu lả hành vi nguy hiểm cho x4 hồi được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cổ ý hoặc vô ý, sâm. pham đến quan hệ pháp luật ma theo quy định của BLHS phải bi xử lý hình. sự Dưới góc đô này, tôi pham xâm pham sỡ hữu có những đặc điểm sau đây: Môi là, tôi pham xâm pham sé hữu là hành vi nguy hiểm cho xế hồi bởi nó gây thiết hai hoặc đe doa gây thiệt hai ding kể cho các quan hệ sở hữu. được pháp luật hình sự bảo về.
Cân lưu ý rang, nếu thiệt hại gây ra hoặc de doa gây ra không đáng kể thi không bị coi lả hành vi pham tôi. Những hành vi nay sẽ được xử lý bang các biện phap khác. Hai là, tôi phạm xâm pham sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hôi được quy dinh trong BLHS. Theo quan điểm hiện nay thì chỉ có BLHS mới được quy đính tội pham, ngoài BLHS, không có văn bản pháp luật nào khác được quy định tôi phạm Khoản 1 Điển 2 BLHS 2015 cũng quy định “Chi người nào phạm một tôi đã được BLHS uy anh mới phải chin trách nhiệm hình su Trên cơ sở nguyên tắc đó, có thể hiểu rằng chỉ những hảnh vi xâm phạm sở.
hữu được quy định trong BLHS mới được coi là tôi pham xâm pham si hữu. Ba lê, tội phạm xêm phạm sé hữu do người có năng lực TNHS thực hiện. BLHS không quy định cụ thể vẻ năng lực TNHS, mã chỉ quy định tinh trang hiểu, tôi phạm xâm phạm sở hữu la hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đạt độ tuổi luật định va té người nhận thức được và có khã năng điều khiển được hành vi của mình. 'Bồn la, tội pham xâm pham sỡ hữu là hanh vi có lỗi, có thể là lỗi có ý hoặc Tối vô ý.
Trong BLHS hiện hành, chỉ có 02 tội pham zâm pham sử hữu được thực hiện với lỗi vô y 1a tột thiểu trách nhiệm gây thiệt hại đền tai sản của Nha nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tôi vô ý gây thiết hại nghiêm trọng đến tải sản. Cac tội xâm phạm sở hữu còn lại déu được thực hiện với léi có ý. "Dưới góc độ phân biệt tội phạm xêm pham sỡ hữu với các tội phạm sâm. pham dén các quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo vệ, tôi pham xâm phạm.
sở hữu được hiểu là tôi pham zâm pham đến quan hệ sỡ hữu. Quan hé sỡ hữu 1a quan hệ sã hội có nội dung la quyển sở hữu của chủ tài sản (gồm quyền. chiếm hữu, quyền sử dung vả quyên định đoạt) đổi với tải sản. "Trên cơ sở các góc d6 như trên, có thé đưa ra khái niệm về tội phạm xêm phạm sở hữu như sau: Tôi phạm vân pham sở hữm là những hành vi ngụy hiểm cho xã hội được ny Ämh trong BLHS do người có năng lực TNHS thực hiện một cách có ƒ hoặc vô ý xâm phạm đến quan hệ sở hia mà việc xâm hại này thé hiện được đây Gi bản chất nguy hiém của tội phạm.
Sơ lược lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội phạm xâm. phạm sở hữu. Quy định vi ội phạm xâm pham sở hin từ năm 1945 đến trước có BLHS năm 1985 ‘Sau Cách mạng tháng Tam, để duy tri sự én định của các quan hệ zã hội, chính quyển cách mang chủ trương tiếp tục áp dung các văn bản pháp luật của chế đồ cũ, nhưng cũng lưuý rằng, Sắc lênh ngày 10/10/1945” chỉ cho phép áp Sốc Hat số ng 0101945 của Ck Tph mốc: Sắc nh cất te thời các ht ý hôn hòn ở Trg, Nant do din ibaa hinh thống bộ hộhấp ty nhất che town sốc 10 dụng văn bản pháp luật của chế độ cũ chứ không thừa nhân các án lê cũ. Bên canh đó, chính quyển cách mang cũng tích cực ban hành nhiều văn bản mới trong lĩnh vực luật hình sự Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh và sự thiểu kinh nghiệm xây dung pháp luất, trong suốt một thời gian dai, tir sau Cách.
mang đến trước năm 1985, nguồn văn bản của Luất hình sự Việt Nam nói chung là một tập hợp của các văn bản đơn hành với nhiễu hình thức tên goi như Sắc lệnh, Pháp lênh, Thông từ v. Liên quan trực tiếp đến tôi pham xâm pham sở hữu, trong giai đoạn đó tin tại các văn bản như. Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 quy định trừng trị tôi tham 6, tôi tổng tiên, bắt cóc, ám sát, tôi đánh bạc, Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 trừng trị các tôi hồi lô, tôi biển thủ công quỹ hay của công, tôi phù. lạm, Thông tư số 442/Ttg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ hướng dấn các Tòa án trừng tri một số tội phạm liên quan dén tài sin; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/ 6/1956 vé trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc lâm thiệt hại đến tai sn của Nhà nước, của hợp tác sã va ola nhân dân, làm.
căn trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kính tế và văn hóa, Chỉ thị số 639 ngày 01/6/1964 của Téa án nhhân dân tối cao hướng dn đường lồi xét xử các loại tội phạm zâm phạm quyển séhữu chủ ngiĩa sã hội Đặc biết, đến khoảng những năm 1970, bắt đầu xuất hiện một số văn bản. pháp luật hình sự có tính pháp điển hóa, trong đó có 02 Pháp lệnh trừng trị các tôi pham xêm pham sở hữu gồm Pháp lệnh trừng ti các tội phạm xêm pham tai sản 2 hội chủ ngiĩa và Pháp lệnh trừng tri các tôi âm phạm tai sản. tiêng của công dân Những văn bản nảy đã phát huy tác dung rất manh mé trong công tác dau tranh phòng, chồng tội phạm xâm phạm sở hữu trong giai đoạn miễn Bắc xy dựng xã hội chủ nghĩa va sau đó là giai đoạn đâu cả nước thống nhất cùng di lên xây dựng chủ nghĩa zã hội. Sau khi Miễn Nam được " giải phóng, Hội đồng Chính phủ cách mang lâm thời Miễn Nam Việt Nam đã ban hanh Sắc luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976 có quy định vé các tội xâm.
pham sở hữu. Sắc luật nay được áp dụng cho đến ngày 01/01/1986, thời điểm BLHS năm 1985 có hiệu lực 1. Quy định về tội phạm xãm phạm sở hitu trong BLHS năm 1985 đến năm 1999. Đôi với tôi pham xâm phạm sở hữu, BLHS năm 1985 đã dảnh 02 chương để quy đính về các tội phạm sâm pham tai sản, bao gm: Chương IV quy đính về các tôi pham xâm phạm sỡ hữu xã hội chủ ngiĩa va Chương VI quy dinh về các tội pham xêm phạm sở hữu của công dân.
Mặc đủ vẫn phân nhóm các tội pham xêm pham sỡ hữu thành 02 nhóm, như pháp luật hình sự giai đoạn trước Nhưng nhìn vào quy định của BLHS năm 1985, có thể nói, trong BLHS năm 1985, quan điểm của các nha làm luật vẻ tội phạm sâm. pham sở hữu đã có nhiễu thay đổi. Đơn cử từ việc sử dụng tén gọi cho các chế định, nếu như trước đó, tội pham này được goi tên là tôi pham xâm pham “tai sản" thì đền BLHS năm 1985 đã đỗi tên thảnh tôi pham xâm pham “sé hữu” Cách đặt tên nhóm tôi pham như vay đã chỉ rõ khách thé của loại tôi pham. nay phải là quan hệ sỡ hữu.
Đẳng thời, néu di sẽu vào các quy định cụ thé của Bộ luật, thi các Điều luật còn chỉ rõ đối tượng của loại tội pham xâm phạm sở hữu nay bắt buộc phải là tải sản Trong khi đó, pháp luật của thời kỷ trước không chỉ rõ va phân đính rõ điểu này. Một số tội phạm xâm phạm tai sản. trong quy định trước đây có đổi tương tác đông không phải la tài sản, quan hé xã hội là khách thể sâm hại của chúng ngoài quan hệ sở hữu còn là những quan hé xã hôi khác như Tôi cổ ý lảm trải nguyên tắc, chính sách, chế độ, thé lệ về kinh tế, tải chính, gây thiệt hai đến tải sin xã hội chủ nghĩa hay các tôi chứa chap, tiêu thu tai sản do phạm tôi ma có, BLHS năm 1985 trải qua 04 lần sửa đỗi bd sung (thang 12/1989, thang 8/1991, tháng 12/1992 vả tháng 5/1997). Tuy nhiên, vẫn tén tai nhiều bắt cập, đặt ra đòi hỏi cẩn thiết phải tiếp tục sửa đổi, bd sung để đáp ứng yêu cầu đầu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình lúc bay giờ.
Trước dai hỗi đó, BLHS năm 1999 ra đời trên tinh than ké thửa va sửa đổi bổ sung kha toản điện. Trong đó, có nhiều thay đổi liên quan đến tôi pham xâm. phạm sở hữu. Trong BLHS năm 1900, các tôi phạm xâm phạm sở hữu không còn phân ra thành 02 nhóm tội như trong BLHS năm 1985 ma quy định gộp chung tại Chương XIV (từ Điều 133 dén Điều 145) với tên chung là các tội phạm sâm phạm sở hữu.
Điều nảy thể hiện Đăng va Nha nước ta không còn phân biệt vi tri, vai trò của từng loại hình sở hữu mà coi việc kiên quyết đâu tranh với các hành vi sâm hai sỡ hữu là nhiệm vụ của toan xã hội. 1999 đã thé hiện rõ quan điểm của Dang và Nha nước về phát triển kinh tế nhiều thành phân, chính sách bình đẳng giữa các thành phân trong x hội. Năm 2009, tinh hình dat nước có nhiều thay đổi với sự phát triển manh. mẽ vé kinhtế, văn hóa — xã hội, đất trong béi cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa, vi thé của Việt Nam được ghi nhân vả nâng lên trên trường quốc tế.
Đã đất ra yêu cầu mới, cần sửa đổi bỗ sung BLHS năm 1999 để khắc phục những bắt câp ny sinh trong qua trình thực thi, dim bao để BLHS 1a công cụ sắc bén của Đăng và Nha nước ta trong công tác đầu tranh phỏng, chống tội phạm, góp phan đắc lực vào việc bao về chế đô chính trị, kinh té, văn hóa, nên an nh quốc phòng va những lĩnh vực khác của đời sống sã hội.