Tổng quan nghiên cứu

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và vững mạnh. Trong giai đoạn vừa qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo xử lý kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 27 đồng chí là Ủy viên và nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng 4 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Dù đạt nhiều kết quả quan trọng, tình hình tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản vẫn diễn biến hết sức phức tạp với thủ đoạn tinh vi, gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công và xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu của công dân.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn tập trung giải quyết những bất cập lý luận và vướng mắc thực tiễn trong áp dụng Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mục tiêu cụ thể là làm rõ bản chất pháp lý, phân định ranh giới giữa tội danh này với các tội phạm liên quan, đánh giá thực trạng xét xử trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021, từ đó xác định nguyên nhân của các tồn tại tư pháp.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hoạt động áp dụng pháp luật hình sự tại các tòa án trên cả nước, kết hợp đối chiếu các báo cáo tổng kết giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2021. Ý nghĩa của đề tài được thể hiện qua các chỉ số mục tiêu: cung cấp cơ sở khoa học nhằm giảm tỷ lệ các bản án sơ thẩm bị hủy hoặc sửa tại cấp phúc thẩm xuống dưới 10%, đồng thời nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản bị chiếm đoạt đạt mức từ 60% đến trên 80% trong thực tiễn thi hành án hình sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước và học thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Nghiên cứu tích hợp các chuẩn mực pháp lý quốc tế từ Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng năm 2003, đặc biệt là quy định tại Điều 19 về hành vi lạm dụng chức năng của công chức.

Khung lý thuyết của công trình làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  • Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Điều 352 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Khái niệm hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn với bản chất là hành vi vượt quá giới hạn nhiệm vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái pháp luật.
  • Khái niệm chiếm đoạt tài sản với tư cách là mục đích bắt buộc và động cơ tư lợi trực tiếp của chủ thể thực hiện tội phạm.
  • Khái niệm khách thể kép, bao gồm hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan, tổ chức nhà nước và quan hệ sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê xét xử định kỳ của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bản án công khai trên Cổng thông tin điện tử Tòa án trong mốc thời gian từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 150 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm về nhóm tội phạm chức vụ trên toàn quốc, trong đó chọn lọc chuyên sâu 52 bản án xét xử trực tiếp về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn 2018 - 2021. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các địa bàn trọng điểm và những vụ án có kháng cáo, kháng nghị hoặc bị cấp phúc thẩm tuyên hủy để điều tra lại.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp thống kê tư pháp và so sánh luật học là nhằm đảm bảo tính toàn diện, khách quan. Tác giả tiến hành đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 với các Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và mở rộng so sánh với pháp luật của Trung Quốc theo Điều 384 đến 386, Nhật Bản theo Điều 193 đến 196 và Liên bang Nga theo Điều 285 để rút ra bài học lập pháp giá trị cho Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực tiễn xét xử giai đoạn 2018 - 2021 làm sáng tỏ các kết quả mang tính định lượng rõ rệt:

Thứ nhất, việc định lượng hóa giá trị tài sản chiếm đoạt khởi điểm từ 2.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, số liệu xét xử cho thấy có tới khoảng 72% tổng số vụ án thuộc khung tăng nặng tại khoản 2 với giá trị tài sản chiếm đoạt từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, và khoảng 18% vụ án thuộc khung hình phạt tại khoản 3 và khoản 4 với giá trị tài sản chiếm đoạt trên 500.000.000 đồng.

Thứ hai, tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị trong các vụ án về tội danh này dao động ở mức cao từ 30% đến 38% qua các năm. Đáng chú ý, nhiều bản án sơ thẩm đã bị Tòa án nhân dân cấp cao tuyên hủy toàn bộ do vi phạm nghiêm trọng tố tụng hoặc đánh giá sai cấu thành tội phạm, điển hình như Bản án phúc thẩm số 471/2020/HS-PT ngày 19/08/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án sơ thẩm số 06/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, và Bản án phúc thẩm số 324/2020/HS-PT hủy Bản án sơ thẩm số 45/2018/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Thứ ba, cơ cấu áp dụng hình phạt phản ánh tính nghiêm khắc với hơn 86% bị cáo bị tuyên phạt tù có thời hạn. Tỷ lệ áp dụng hình phạt tù từ 1 năm đến 6 năm chiếm khoảng 45%, từ trên 6 năm đến 13 năm chiếm khoảng 38%, và mức phạt trên 13 năm tù chiếm khoảng 17%. Tỷ lệ cho hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ chiếm dưới 5% tổng số trường hợp.

Thứ tư, tình trạng nhầm lẫn định danh tội phạm giữa Điều 355 với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có áp dụng tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn theo điểm đ khoản 2 Điều 174 chiếm khoảng 22% các trường hợp có quan điểm bất đồng giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn truy tố và xét xử sơ thẩm.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên cho thấy nguyên nhân cốt lõi của việc hủy, sửa án bắt nguồn từ nhận thức chưa thống nhất về yếu tố vượt quá quyền hạn của người phạm tội. Khi đối chiếu với quy định tại Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ranh giới giữa hành vi sử dụng vị trí công tác để lừa dối và hành vi lạm dụng quyền lực trực tiếp uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản vẫn chưa được hướng dẫn tường minh.

Dữ liệu xét xử phản ánh sinh động qua Biểu đồ thống kê tình hình thụ lý và Biểu đồ cơ cấu hình phạt trong luận văn. Việc so sánh với mô hình của Bộ luật Hình sự Nhật Bản và Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cho thấy các nước này phân định mức phạt dựa chặt chẽ trên mức độ quyền lực công vụ và đối tượng bị xâm hại, thay vì phụ thuộc quá lớn vào định mức giá trị vật chất như quy định hiện hành của Việt Nam. Điều này lý giải vì sao tại Việt Nam, công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng vẫn gặp nhiều khó khăn khi chưa gắn liền trách nhiệm tài chính ngay từ giai đoạn điều tra ban đầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật và kiểm soát tội phạm chức vụ, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết chuyên đề giải thích chi tiết các dấu hiệu định tội của Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong đó, cần xác định rõ tiêu chí vượt quá quyền hạn và ranh giới với tình tiết lợi dụng chức vụ tại Điều 174, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ các bản án sơ thẩm bị hủy hoặc sửa do lỗi định tội danh xuống dưới 3% trong giai đoạn 2023 - 2025.

  2. Chuẩn hóa quy trình giám định và định giá tài sản: Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính thiết lập quy chế liên ngành rút ngắn thời gian giám định tài chính, tư pháp từ mức trung bình 6 tháng xuống còn dưới 45 ngày. Giải pháp này giúp các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm thời hạn điều tra và xác định chính xác khung hình phạt áp dụng.

  3. Đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm thu hồi tài sản: Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần áp dụng triệt để các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngân hàng ngay trong vòng 24 đến 48 giờ kể từ thời điểm khởi tố vụ án. Mục tiêu nâng tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng thực tế đạt từ 70% đến 85% tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vào năm 2026.

  4. Nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ tiến hành tố tụng: Học viện Tòa án và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội cần tổ chức tối thiểu 2 khóa bồi dưỡng chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng xử lý chứng cứ kỹ thuật số và phân tích dòng tiền phạm tội cho 100% điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán giải quyết các vụ án kinh tế, tham nhũng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán có thể ứng dụng các tiêu chí phân tích cấu thành tội phạm để định danh tội danh chính xác, đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của hành vi và hạn chế tối đa rủi ro trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc bị hủy án tại cấp phúc thẩm.
  • Đội ngũ luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý: Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ chặt chẽ về mặt khách quan và chủ quan của tội phạm, giúp luật sư xây dựng chiến lược bào chữa khoa học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các vụ án hình sự về chức vụ.
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Các nhà làm luật có thể sử dụng số liệu thực tiễn và kết quả so sánh pháp luật quốc tế làm luận cứ phục vụ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng trong các giai đoạn tiếp theo.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật: Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên khảo giá trị, kết hợp hài hòa giữa lịch sử lập pháp từ năm 1946 đến nay với dữ liệu thực chứng 2018 - 2021, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản khác gì so với tội tham ô tài sản? Sự khác biệt cốt lõi nằm ở đối tượng tác động của tội phạm. Tại Điều 353 về tội tham ô tài sản, người phạm tội chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý hợp pháp. Ngược lại, tại Điều 355, người phạm tội dùng quyền hạn vượt quá để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc tài sản không thuộc quyền quản lý của bản thân.

Ranh giới giữa hành vi lạm dụng và lợi dụng chức vụ, quyền hạn được xác định như thế nào? Hành vi lợi dụng chức vụ là việc sử dụng chức trách, quyền hạn đúng trong phạm vi được giao nhưng nhằm phục vụ mưu lợi cá nhân không chính đáng. Hành vi lạm dụng chức vụ thể hiện tính chất vượt quá phạm vi, giới hạn thẩm quyền được cơ quan nhà nước cho phép để thực hiện mục đích vụ lợi.

Mức giá trị tài sản tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 355 là bao nhiêu? Theo khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015, mức khởi điểm để truy cứu là từ 2.000.000 đồng. Trường hợp giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, người thực hiện hành vi vẫn bị xử lý hình sự nếu đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội tham nhũng chưa được xóa án tích.

Người không giữ chức vụ, quyền hạn có thể bị kết án về tội danh này hay không? Có thể bị truy cứu với vai trò đồng phạm. Mặc dù chủ thể thực hành trực tiếp bắt buộc phải là người có chức vụ, quyền hạn, nhưng người không có chức vụ vẫn bị xử lý theo Điều 355 nếu tham gia với tư cách người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức trong vụ án có đồng phạm.

Khung hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội danh quy định tại Điều 355 là mức nào? Căn cứ khoản 4 Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên sẽ bị áp dụng khung hình phạt nghiêm khắc nhất là phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân, đồng thời có thể bị phạt tiền đến 100.000.000 đồng và cấm đảm nhiệm chức vụ từ 1 đến 5 năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chỉ rõ bản chất kép về khách thể xâm phạm của tội phạm chức vụ.
  • Đánh giá thực chứng 52 bản án giai đoạn 2018 - 2021, làm rõ thực trạng áp dụng hình phạt tù chiếm trên 86% và chỉ ra nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ kháng cáo, hủy án sơ thẩm ở mức cao.
  • Đóng góp luận cứ khoa học phân biệt chính xác Điều 355 với Điều 174, Điều 353 và Điều 357 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ về lập pháp, giám định tư pháp, thu hồi tài sản và đào tạo cán bộ với lộ trình thực hiện từ năm 2023 đến năm 2026.
  • Đặt nền móng để tiếp tục mở rộng nghiên cứu kiểm soát tội phạm tham nhũng trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước và môi trường chuyển đổi số.