Tổng quan luận án
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta chính thức chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế thị trường cũng làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trong đó có tình hình tội kinh doanh trái phép.
Hành vi kinh doanh trái phép gây ra nhiều hệ lụy cho đời sống kinh tế - xã hội: xâm phạm quyền lợi hợp pháp của cá nhân và tổ chức; gây thất thu ngân sách nhà nước thông qua hành vi trốn thuế; làm biến dạng môi trường cạnh tranh lành mạnh; gây trở ngại cho công tác quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước và tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn trật tự xã hội. Trong giai đoạn 1991–2001, tình hình tội kinh doanh trái phép diễn biến phức tạp, có sự gia tăng đột biến vào năm 1995 (tăng 1.250% về số vụ và 1.533,3% về số bị cáo so với năm 1991), sau đó có xu hướng giảm dần nhưng chưa thực sự bền vững. Bên cạnh đó, việc Bộ luật Hình sự năm 1999 được ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/07/2000) thay thế Bộ luật Hình sự năm 1985 đã có những sửa đổi, bổ sung căn bản về cấu thành pháp lý của tội danh này.
Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học pháp lý nào ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về tội kinh doanh trái phép dưới cả hai góc độ Tội phạm học và Luật Hình sự trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống về tội kinh doanh trái phép, làm rõ tình hình, nguyên nhân, điều kiện và các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này trong điều kiện kinh tế thị trường, luận án hướng tới việc xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đấu tranh phòng ngừa và chống tội kinh doanh trái phép ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích làm rõ tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội kinh doanh trái phép trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam giai đoạn 1991–2001.
- Làm rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội kinh doanh trái phép theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội phạm này.
- Đề xuất hệ thống các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý tội kinh doanh trái phép trong giai đoạn hiện tại và những năm tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu:
Tội kinh doanh trái phép, tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, cùng hệ thống các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội danh này trong điều kiện kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Góc độ tiếp cận: Pháp lý hình sự và Tội phạm học.
- Không gian: Phạm vi toàn quốc (có khảo sát chuyên sâu tại các địa bàn trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Nam Định, Thanh Hóa).
- Thời gian: Giai đoạn 11 năm, từ năm 1991 đến năm 2001.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tội kinh doanh trái phép đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở các giai đoạn lịch sử khác nhau:
- Giai đoạn thi hành Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (1982): Công trình tiêu biểu là cuốn sách “Tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép” của tác giả Vũ Thiện Kim (NXB Pháp lý, 1983). Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tội kinh doanh trái phép cùng nhóm tội phạm kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa.
- Giai đoạn thi hành Bộ luật Hình sự năm 1985: Tội kinh doanh trái phép được phân tích trong các tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên khảo như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Trường Đại học Luật Hà Nội (1997); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (NXB Chính trị Quốc gia, 1987, tái bản 1992, 1997); công trình Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997); Đề tài khoa học cấp Bộ “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi)” (mã số 95-98-107/ĐT do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý chủ trì, 1998); bài viết của TS. Nguyễn Văn Hiện trên Tạp chí Thông tin Khoa học Pháp lý (1998). Các công trình này chủ yếu nhìn nhận tội danh trong khuôn khổ cơ chế kinh tế cũ hoặc mới chỉ giải quyết từng khía cạnh lý luận riêng lẻ theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 1985.
- Giai đoạn sau khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999: Tội danh được bình luận trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000); cuốn Bộ luật hình sự mới của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam của Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp (2000); cuốn Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm) của nhóm tác giả Phùng Thế Vạc, Trần Văn Luyện, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Đức Mai, Nguyễn Sỹ Đại, Nguyễn Mai Bộ (NXB Công an nhân dân, 2001); cùng các bài báo chuyên ngành của tác giả Trần Mạnh Đạt trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Vị trí của luận án:
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ giải quyết đồng bộ cả hai phương diện: phân tích tội phạm học thực chứng (thực trạng, động thái, cơ cấu, nhân thân, nguyên nhân và điều kiện) và làm rõ cấu thành pháp lý hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 1999, từ đó thiết lập các giải pháp phòng ngừa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý; quan điểm xem tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử.
- Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp.
- Các lý thuyết nền tảng của khoa học Luật Hình sự, Tội phạm học, Xã hội học pháp luật và Tâm lý học tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự về tội kinh doanh trái phép qua các thời kỳ: phong kiến, Pháp thuộc, thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa bao cấp (Pháp lệnh 1982, Bộ luật Hình sự 1985) đến Bộ luật Hình sự 1999.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tổng hợp các số liệu thống kê tư pháp để rút ra quy luật vận động của tội phạm.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của một số quốc gia chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga) và các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển (Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ).
- Phương pháp xã hội học pháp luật và thống kê tội phạm: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án nhân dân trong 11 năm (1991–2001); số liệu xử lý vi phạm, khởi tố, điều tra của ngành Công an và Viện kiểm sát; khảo sát thực tế hồ sơ 82 vụ án hình sự về tội kinh doanh trái phép tại 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Phương pháp khoa học dự báo: Đánh giá các yếu tố tác động để dự báo xu hướng vận động của tội kinh doanh trái phép trong tương lai.
Nguồn dữ liệu
- Số liệu thống kê tư pháp hình sự xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao (1991–2001).
- Báo cáo tổng kết công tác đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế của Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Hồ sơ 82 vụ án hình sự xét xử về tội kinh doanh trái phép tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Nam Định, Thanh Hóa.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp trung ương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội kinh doanh trái phép trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Chương 1 chiếm dung lượng lớn, tập trung phân tích thực trạng tội phạm học của tội kinh doanh trái phép trong giai đoạn 1991–2001 dựa trên các dữ liệu thống kê tư pháp và khảo sát thực tiễn:
1. Đặc điểm nền kinh tế thị trường tác động đến tội phạm
Kinh tế thị trường Việt Nam giai đoạn 1991–2001 mang tính sơ khai, vừa bước ra khỏi cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Cơ chế quản lý mới bắt đầu hình thành nhưng hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, có sự đan xen giữa hai cơ chế quản lý. Môi trường kinh doanh "bung ra" nhanh chóng tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia sản xuất, thương mại, nhưng đồng thời tạo kẽ hở cho các hành vi làm ăn phi pháp.
2. Thực trạng tội kinh doanh trái phép
- Tỷ trọng trong nhóm tội phạm kinh tế: Từ năm 1991 đến năm 2001, tổng số các tội phạm kinh tế bị xét xử sơ thẩm chiếm từ 1,6% đến 2,9% số vụ và 2,0% đến 3,2% số bị cáo so với tổng số án hình sự nói chung.
- Tỷ trọng tội kinh doanh trái phép: Trong nhóm tội phạm về kinh tế, số vụ án kinh doanh trái phép trung bình hàng năm chiếm 4,2% (giai đoạn 1986–1990 là 6,6%); số bị cáo kinh doanh trái phép trung bình chiếm 2,8% (giai đoạn 1986–1990 là 4,5%). So với tổng số bị cáo của các loại tội phạm nói chung, số bị cáo kinh doanh trái phép trung bình hàng năm chiếm 0,07% (thấp hơn 2,5 lần so với giai đoạn 1986–1990).
- Mối tương quan qua các giai đoạn tố tụng: Số lượng hành vi vi phạm thực tế lớn hơn rất nhiều so với số vụ việc bị xử lý hình sự. Trong giai đoạn 1991–1996, nếu coi tổng số vụ vi phạm hành chính về kinh doanh trái phép là 100% (12.258 vụ) thì số vụ khởi tố chỉ chiếm 1,94% (238 vụ), số vụ truy tố chiếm 1,17% (144 vụ) và số vụ đưa ra xét xử sơ thẩm chiếm 1,05% (129 vụ). Số vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra trung bình hàng năm chiếm 15,3%, trong khi tỷ lệ đình chỉ ở giai đoạn xét xử là không đáng kể.
3. Vấn đề tội phạm ẩn
Luận án phân loại tội phạm ẩn của tội kinh doanh trái phép thành ba dạng:
- Tội phạm ẩn tự nhiên: Tội phạm xảy ra nhưng cơ quan chức năng không phát hiện được do thủ đoạn che giấu tinh vi (kinh doanh sai ngành nghề đăng ký), do tính chất tội phạm xâm phạm trật tự quản lý chung của Nhà nước mà không có nạn nhân cá nhân trực tiếp đứng ra tố giác, do người làm chứng e ngại khai báo (văn bản pháp luật chưa có cơ chế bảo vệ hữu hiệu như Điều 105 Bộ luật Hình sự Nhật Bản), hoặc do văn bản pháp luật quản lý kinh doanh còn chồng chéo, mâu thuẫn.
- Tội phạm ẩn nhân tạo: Tội phạm đã được phát hiện nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố hoặc đình chỉ vụ án không đúng căn cứ pháp luật.
- Tội phạm ẩn thống kê: Tội phạm đã bị xử lý nhưng bị bỏ sót trong báo cáo thống kê do sai sót kỹ thuật, tổng hợp thiếu từ địa phương hoặc chỉ thống kê theo tội danh chính có mức phạt cao nhất.
4. Diễn biến (động thái)
Diễn biến số vụ và số bị cáo tội kinh doanh trái phép trong 11 năm có sự biến động không đồng đều:
- Từ 1991 đến 1995: Tăng liên tục và đạt đỉnh vào năm 1995 với 75 vụ và 92 bị cáo (tăng 1.250% về số vụ và 1.533,3% về số bị cáo so với năm 1991).
- Từ 1995 đến 1997: Giảm dần (năm 1997 còn 48 vụ, 49 bị cáo).
- Năm 1998: Tăng trở lại (64 vụ, 71 bị cáo).
- Từ 1999 đến 2001: Giảm mạnh (năm 1999: 38 vụ/39 bị cáo; năm 2000: 27 vụ/31 bị cáo; năm 2001: 10 vụ/10 bị cáo). Mức giảm này chịu sự tác động trực tiếp từ việc thay đổi dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 1999 theo hướng thu hẹp phạm vi xử lý hình sự.
5. Cơ cấu và tính chất
- Quy mô phạm tội: Đa số các vụ án chỉ do một người thực hiện (tỷ lệ trung bình 1,10 bị cáo/vụ án).
- Dạng hành vi vi phạm (qua khảo sát 82 vụ án thực tế): Hành vi kinh doanh không có đăng ký kinh doanh sau khi đã bị xử phạt hành chính chiếm 82%; hành vi kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký chiếm 17%; hành vi kinh doanh không có giấy phép riêng chiếm tỷ lệ không đáng kể.
- Cơ cấu hình phạt:
| Năm |
Tổng số bị cáo |
Cảnh cáo |
Phạt tiền |
Cải tạo không giam giữ |
Án treo |
Tù giam |
Hình phạt bổ sung kèm theo |
| 1991 |
6 |
0 |
0 |
0 |
3 |
3 |
0 |
| 1992 |
15 |
1 |
0 |
1 |
6 |
7 |
4 |
| 1993 |
26 |
0 |
1 |
0 |
20 |
5 |
8 |
| 1994 |
28 |
0 |
0 |
0 |
14 |
14 |
8 |
| 1995 |
92 |
0 |
2 |
2 |
39 |
49 |
41 |
| 1996 |
64 |
0 |
0 |
2 |
23 |
39 |
28 |
| 1997 |
49 |
0 |
0 |
0 |
27 |
22 |
21 |
| 1998 |
71 |
1 |
2 |
0 |
36 |
32 |
14 |
| 1999 |
39 |
0 |
0 |
1 |
18 |
20 |
8 |
| 2000 |
31 |
0 |
0 |
4 |
6 |
21 |
12 |
| 2001 |
10 |
0 |
3 |
8 |
5 |
3 |
1 |
| Tổng số |
431 |
2 |
8 |
18 |
197 |
204 |
137 |
| Tỷ lệ (%) |
100% |
0,46% |
1,86% |
4,18% |
45,70% |
47,33% |
31,79% |
- Hậu quả xã hội: Luận án chỉ ra 4 nhóm hậu quả chủ yếu: (1) Xâm hại quyền lợi, an toàn, sức khỏe của người tiêu dùng (dẫn chứng bản án số 58/HS-PT ngày 15/08/1998 của TAND tỉnh Nam Định về vụ kinh doanh bể bơi không phép gây chết người); (2) Thất thu ngân sách nhà nước do mất kiểm soát thông tin thuế (pháp luật quy định trong 7 ngày cơ quan đăng ký kinh doanh phải gửi thông tin sang cơ quan thuế); (3) Gây rối loạn môi trường cạnh tranh kinh doanh; (4) Cản trở công tác điều tiết vĩ mô của Nhà nước, tạo mầm mống bất ổn định kinh tế - xã hội.
6. Đặc điểm nhân thân người phạm tội
- Giới tính: Bị cáo nữ chiếm trung bình 19% (cao hơn tỷ lệ nữ phạm các tội kinh tế nói chung là 13%), có năm tăng cao như năm 1995 (31,5%), năm 1996 (35,9%) và năm 2000 (35,5%).
- Độ tuổi: Người phạm tội có độ tuổi từ 30 trở lên chiếm đa số (trung bình 75,1%), độ tuổi từ 18 đến 30 chỉ chiếm 20,9% (khác biệt so với nhóm tội phạm sở hữu có độ tuổi 18–30 chiếm tới 74%).
7. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm
Luận án chỉ ra 6 nhóm nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội kinh doanh trái phép:
- Nguyên nhân và điều kiện thuộc về tâm lý xã hội (tư tưởng chạy theo lợi nhuận cục bộ, thói quen kinh doanh tùy tiện, tâm lý bàng quan của cộng đồng).
- Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế - xã hội (khó khăn về việc làm, chênh lệch cung cầu hàng hóa, sự cạnh tranh không lành mạnh).
- Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến quản lý nhà nước (sự buông lỏng, thiếu phối hợp giữa cơ quan cấp phép, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế).
- Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến chính sách, pháp luật (hệ thống pháp luật kinh tế còn thiếu đồng bộ, quy định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự chưa thực sự rõ ràng).
- Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến công tác phát hiện, xử lý vi phạm, tội phạm (lực lượng chức năng mỏng, nghiệp vụ còn hạn chế, xử lý thiếu kiên quyết).
- Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật (tuyên truyền mang tính hình thức, nội dung chưa sâu sát đến đối tượng kinh doanh cá thể).
Chương 2: Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2 làm rõ lịch sử lập pháp và phân tích toàn diện các yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 1999:
1. Khái quát lịch sử quy định pháp luật hình sự về tội kinh doanh trái phép
- Thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc: Các quy định xử lý hành vi kinh doanh không phép chủ yếu nhằm bảo vệ độc quyền của nhà nước phong kiến hoặc chính quyền thuộc địa (độc quyền muối, rượu, thuốc phiện...).
- Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp: Pháp lệnh năm 1982 và Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 168) quy định tội kinh doanh trái phép với phạm vi xử lý rộng, hình sự hóa các hành vi kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng nội dung giấy phép trong nền kinh tế do Nhà nước độc quyền điều phối lưu thông hàng hóa.
2. Các dấu hiệu pháp lý của tội kinh doanh trái phép theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 159)
- Khái niệm: Tội kinh doanh trái phép là hành vi kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định thuộc một trong các trường hợp luật định.
- Khách thể của tội phạm: Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi: Gồm 3 dạng hành vi: (1) Kinh doanh không có đăng ký kinh doanh; (2) Kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký; (3) Kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp ngành nghề kinh doanh đó pháp luật quy định phải có giấy phép riêng.
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Người thực hiện một trong các hành vi trên chỉ bị xử lý hình sự khi thỏa mãn một trong ba điều kiện: Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều luật cụ thể chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; hoặc hàng phạm pháp có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên (đến dưới 500 triệu đồng thuộc khoản 1; từ 500 triệu đồng trở lên thuộc khoản 2).
- Chủ thể của tội phạm: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi trở lên).
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ hành vi kinh doanh của mình là trái phép, thấy trước hậu quả và mong muốn thực hiện nhằm mục đích vụ lợi.
- Hệ thống hình phạt áp dụng: Khung hình phạt chính bao gồm phạt tiền (từ 5 triệu đến 50 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (khoản 1); phạt tù từ 2 năm đến 7 năm (khoản 2). Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội kinh doanh trái phép trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 xây dựng các dự báo và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm:
1. Dự báo tình hình tội kinh doanh trái phép
Đánh giá tác động của tiến trình hội nhập kinh tế, mở rộng các thành phần kinh tế, sự gia tăng của hoạt động thương mại điện tử và lưu thông hàng hóa; dự báo hành vi kinh doanh trái phép có xu hướng diễn biến tinh vi hơn, lợi dụng các lỗ hổng về công nghệ và quy chế quản lý doanh nghiệp mới để trục lợi.
2. Định hướng và quan điểm chủ đạo
- Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách kinh tế và chính sách hình sự: bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân theo Hiến pháp nhưng kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tự do kinh doanh để trục lợi phi pháp.
- Coi phòng ngừa xã hội là cơ bản, xử lý tư pháp là biện pháp nghiêm minh, cần thiết.
- Phân định rõ ràng ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự nhằm tránh hình sự hóa quan hệ kinh tế dân sự thuần túy hoặc bỏ lọt tội phạm.
3. Hệ thống 5 nhóm giải pháp cụ thể
- Nhóm giải pháp về kinh tế - xã hội: Hoàn thiện cơ chế thị trường, phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng; hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật và tạo việc làm cho người lao động.
- Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước: Đổi mới và đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh; chuyển mạnh từ cơ chế "tiền kiểm" sang "hậu kiểm"; tăng cường phối hợp trao đổi dữ liệu thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ quan thuế.
- Nhóm giải pháp về chính sách, pháp luật:
- Rà soát, chuẩn hóa danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện và ngành nghề cần giấy phép riêng.
- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999 để thống nhất cách hiểu về định lượng "giá trị hàng phạm pháp" và khái niệm "giấy phép riêng".
- Bổ sung quy định tố tụng hình sự về bảo vệ người làm chứng nhằm khuyến khích phát hiện, tố giác tội phạm.
- Nhóm giải pháp về phát hiện, xử lý vi phạm và tội phạm: Nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Viện kiểm sát, Tòa án và lực lượng Quản lý thị trường; tăng cường trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác giám định, kiểm tra, kiểm soát thị trường.
- Nhóm giải pháp về phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật: Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền pháp luật kinh doanh đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là khu vực kinh doanh cá thể; công khai minh bạch các thủ tục hành chính và chế tài xử lý vi phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội kinh doanh trái phép trong nền kinh tế thị trường, kết hợp phân tích tội phạm học và phân tích quy phạm pháp lý hình sự.
- Về mặt thực chứng tội phạm học: Luận án đã đánh giá chi tiết thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất, hậu quả và đặc điểm nhân thân người phạm tội kinh doanh trái phép trong 11 năm (1991–2001); phân loại và làm rõ bản chất các dạng tội phạm ẩn (ẩn tự nhiên, ẩn nhân tạo, ẩn thống kê) của loại tội phạm này.
- Về mặt khoa học pháp lý hình sự: Làm rõ các điểm mới trong cấu thành pháp lý của tội kinh doanh trái phép theo Bộ luật Hình sự năm 1999 so với Bộ luật Hình sự năm 1985; so sánh đối chiếu với pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Nga, Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ) để rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.
- Về mặt thực tiễn giải pháp: Luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ (kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước, hoàn thiện pháp luật, tư pháp xử lý tội phạm, tuyên truyền giáo dục) có giá trị ứng dụng trực tiếp vào công tác lập pháp và thực thi pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Dữ liệu thống kê thực chứng của luận án bị giới hạn trong mốc thời gian từ năm 1991 đến năm 2001.
- Số liệu khảo sát thực tế chuyên sâu dừng lại ở quy mô mẫu 82 vụ án tại 7 địa phương trọng điểm do hạn chế về nguồn thống kê lưu trữ phân loại hành vi vi phạm ở cấp tòa án địa phương tại thời điểm nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999 trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình hội nhập quốc tế (gia nhập WTO, các hiệp định thương mại tự do).
- Nghiên cứu xu hướng phi tội phạm hóa hoặc điều chỉnh cấu thành tội phạm kinh doanh trái phép phù hợp với sự phát triển của Luật Doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh trong các lần sửa đổi pháp luật hình sự tương lai.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên ngành Luật: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về phân tích tội phạm học thực nghiệm và lý luận cấu thành tội phạm kinh tế.
- Cơ quan lập pháp và cơ quan nghiên cứu chính sách (Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu Lập pháp): Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để rà soát, hoàn thiện các quy định về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
- Các cơ quan tiến hành tố tụng và thực thi pháp luật (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quản lý thị trường): Tham khảo mô hình phân tích tội phạm ẩn, dấu hiệu định tội danh và phương thức phối hợp liên ngành trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội kinh doanh trái phép.
Câu hỏi thường gặp
1. Diễn biến tình hình tội kinh doanh trái phép giai đoạn 1991–2001 có quy luật như thế nào?
Số lượng vụ án và bị cáo tội kinh doanh trái phép tăng giảm không ổn định: tăng mạnh từ năm 1991 và đạt đỉnh đột biến vào năm 1995 (75 vụ, 92 bị cáo, tăng 1.250% về số vụ và 1.533,3% về số bị cáo so với năm 1991). Sau đó, tội danh này giảm dần qua các năm và giảm mạnh từ năm 1999 đến năm 2001 (năm 2001 còn 10 vụ, 10 bị cáo), chủ yếu do sự thay đổi về chính sách hình sự và việc thu hẹp phạm vi cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 1999.
2. Tội phạm ẩn của tội kinh doanh trái phép gồm những dạng nào và nguyên nhân chủ yếu do đâu?
Tội phạm ẩn gồm 3 dạng:
- Ẩn tự nhiên: Do thủ đoạn che giấu của người phạm tội, do thiệt hại mang tính chung cho Nhà nước nên thiếu sự tố giác của người bị hại cụ thể, do thiếu cơ chế bảo vệ người làm chứng và sự chồng chéo của văn bản pháp luật.
- Ẩn nhân tạo: Do cơ quan có thẩm quyền không khởi tố hoặc đình chỉ vụ án trái pháp luật.
- Ẩn thống kê: Do sai sót kỹ thuật ghi nhận, tổng hợp thiếu báo cáo hoặc chỉ thống kê theo tội danh chính có khung phạt cao hơn.
3. Dạng hành vi vi phạm nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong các vụ án kinh doanh trái phép được khảo sát thực tế?
Qua phân tích thực tế 82 vụ án tại 7 địa phương trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Nam Định, Thanh Hóa), dạng hành vi chiếm tỷ lệ áp đảo là kinh doanh không có đăng ký kinh doanh sau khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính (chiếm 82%), hành vi kinh doanh không đúng nội dung đăng ký chiếm 17%, còn hành vi kinh doanh không có giấy phép riêng chiếm tỷ lệ không đáng kể.
4. Đặc điểm nhân thân của người phạm tội kinh doanh trái phép có điểm gì khác biệt so với các loại tội phạm khác?
- Về giới tính: Tỷ lệ nữ phạm tội kinh doanh trái phép trung bình là 19%, cao hơn tỷ lệ nữ trong toàn bộ nhóm tội phạm kinh tế (13%).
- Về độ tuổi: Người phạm tội chủ yếu từ 30 tuổi trở lên (chiếm 75,1%), trong khi nhóm tuổi 18–30 chỉ chiếm 20,9% (ngược lại với nhóm tội phạm sở hữu có độ tuổi 18–30 chiếm tới 74%).
5. Khác biệt cơ bản về điều kiện xử lý hình sự tội kinh doanh trái phép giữa Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999 là gì?
Theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 1985, hành vi chỉ cần không có giấy phép hoặc không đúng nội dung giấy phép là có thể bị xử lý. Theo Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999, phạm vi xử lý bị thu hẹp: người thực hiện hành vi kinh doanh không đăng ký, không đúng nội dung đăng ký hoặc không có giấy phép riêng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án chưa được xóa án tích, hoặc hàng phạm pháp có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Mạnh Đạt là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về tội kinh doanh trái phép trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam giai đoạn 1991–2001. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các dữ liệu thống kê tư pháp và khảo sát thực tiễn 82 vụ án, luận án đã làm sáng tỏ thực trạng, động thái, cơ cấu, nhân thân và cơ chế phát sinh tội phạm ẩn, đồng thời phân tích rõ cấu thành pháp lý của tội danh theo Bộ luật Hình sự năm 1999. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác lập pháp, nghiên cứu khoa học và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm kinh tế tại Việt Nam.