đặt vấn đề tôn trọng quyền sống của con người lên hàng đầu. Điều này cho thấy sự quan tâm và cam kết của cộng đồng quốc tế đối với quyền sống của con người. Pháp luật hình sự bảo vệ người đang sống và những người có khả năng độc lập tiếp nhận yếu tố đảm bảo cuộc sống, dù tình trạng sống hay 8 Điều 19, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Ngày 28/11/2013. 9 Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Ngày 28/11/2013.
16 khả năng tiếp nhận yếu tố đảm bảo cuộc sống là tối thiểu.10 Vì vậy, các quy định pháp luật đã được thành lập để bảo vệ tính mạng và đòi hỏi mọi người phải tuân thủ. Pháp luật xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, trở thành công cụ cưỡng chế thực thi nhằm đảm bảo trật tự xã hội và trật tự giai cấp. Trải qua hàng ngàn năm phát triển, pháp luật vẫn giữ nguyên vai trò điều quản trong xã hội hiện đại, là những quy tắc xử sự chung nhất, phổ biến nhất để điều chỉnh quan hệ xã hội. Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt có thể áp dụng cho các tội phạm đó.
Luật hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống nhưng không phải quan hệ xã hội nào cũng được luật hình sự bảo vệ, chỉ những quan hệ xã hội quan trọng, ảnh hưởng mạnh tới đời sống chính trị- xã hội- kinh tế của đất nước mới là đối tượng của Luật Hình sự. Đồng thời các quan hệ xã hội đó bị tội phạm hướng tới gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở một mức độ đáng kể.11 Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại chính là khách thể của tội phạm. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ nằm trong chương XIV BLHS năm 2015, cùng với các tội khác thuộc chương này có khách thể loại là quan hệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Khách thể trực tiếp của tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ là tính mạng của con mới đẻ.
Tội phạm xâm phạm tới quyền được sống, quyền được bảo hộ tính mạng của con người mà cụ thể là đứa trẻ mới sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi. Tội giết người nói chung và tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ nói riêng là hành vi trực tiếp xâm phạm đến quyền được sống của con người - quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đây là những hành vi cực kỳ nghiêm trọng và được coi là tội phạm đối với xã hội. Quyền sống của con người là một trong những quyền cơ bản, tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất trong số các quyền nhân thân.
Quyền này được đảm bảo bằng sự an toàn trong cuộc sống của mỗi con người, từ thời điểm lọt lòng mẹ cất tiếng khóc đầu tiên chào đời, cho đến khi chết theo quy luật tự nhiên. Quyền sống là quyền tự do cơ bản nhất, không ai có quyền xâm hại, điều này đã được ghi nhận tại Công ước Liên hiệp 10 Trần Minh Hưởng (2009), Bình luận khoa học BLHS đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (thực hiện từ 01/2010), Nxb Lao Động. 11 Trường ĐH Luật TP.HCM (2021), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức, tr. 17 quốc về quyền con người.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công khai, bảo vệ quyền sống của con người thông qua Hiến pháp năm 2013. Vì thế, tội phạm thực hiện hành hành vi giết hoặc vứt vi giết hoặc vứt bỏ trẻ em mới đẻ đồng nghĩa với việc xâm phạm quan hệ tính mạng được luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của Luật Hình sự.12 Đối tượng tác động của nhóm tội của chương XVI BLHS năm 2015 là con người đang sống với ý nghĩa là một thực thể tự nhiên. Pháp luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ các quyền thiết thân nhất của con người nên đối tượng bị nhóm này tác động đến phải là con người đang sống.
Thời điểm bắt đầu sự sống của con người dưới góc độ pháp lý hình sự là kể từ lúc họ được sinh ra và tồn tại độc lập với cơ thể của người mẹ. Thời điểm kết thúc sự sống của con người là thời điểm chết sinh học đã xảy ra. Chính vì vậy, thai nhi và tử thi không là đối tượng tác động của nhóm tội này. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 BLHS năm 2015 thuộc chương XIV Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người.
Đối tượng tác động của tội trên là con người mà cụ thể là đứa trẻ mới sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi. Đây được xem là cơ sở để phân biệt với các tội phạm khác trong nhóm tội xâm hại quan hệ tính mạng. Đối với tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ thì đối tượng tác động của tội này là căn cứ để định tội danh. Vậy thuật ngữ “con mới đẻ” được hiểu như thế nào? Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam là BLHS năm 1985, trong đó nhà soạn luật sử dụng cụm từ “con mới đẻ” chỉ đối tượng tác động của hành vi mẹ giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ và theo Nghị quyết 04/1986/ HĐTPTANDTC/NQ hướng dẫn BLHS năm 1985 thì con mới đẻ được giải thích là đứa trẻ sinh ra trong bảy ngày trở lại.
Cho đến bộ luật hiện hành là BLHS năm 2015, nhà làm luật đã thay cụm từ “ con mới đẻ” thành “con do mình đẻ ra trong vòng 07 ngày tuổi”. Như đã nói, đối tượng tác động của nhóm tội phạm này là con người với ý nghĩa là một thực thể sống, nên thai nhi không là đối tượng tác động của tội này. Trẻ em mới đẻ được coi là đối tượng tác động của tội này nếu đã sinh ra, cơ thể tách độc lập với cơ thể người mẹ và bị xâm hại trong khoảng thời gian từ lúc sinh ra đến 07 ngày tuổi. Nếu 12 Trường ĐH Luật TP.
18 sang ngày 08 trở đi mà trẻ em bị xâm phạm thì không đáp ứng dấu hiệu định tội để cấu thành tội Giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ. Như vậy có thể nói nạn nhân là con do chủ thể của tội phạm mới sinh ra trong vòng 7 ngày. Đối tượng của tội phạm có mối quan hệ mẹ con với chủ thể của tội phạm này, đây cũng là một trong những dấu hiệu pháp lý cơ bản để phân biệt tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ với tội giết người hoặc các tội phạm khác. Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là một yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Để nghiên cứu các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm, chúng ta cần phải xem xét những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.13 Các dấu hiệu này bao gồm những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội, hậu quả có tính nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, và các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện tội phạm như công cụ, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội. Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, cùng với mặt chủ quan, mặt chủ thể và mặt khách thể. Vì mặt khách quan không phải là yếu tố đơn lẻ nên thiếu yếu tố này thì các yếu tố khác của tội phạm không thể tồn tại và tất nhiên sẽ không có tội phạm xảy ra.14 Tuy nhiên, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan được coi là yếu tố quan trọng trong việc xác định tội phạm và đưa ra các quyết định liên quan đến định tội và hình phạt.
Vì vậy, việc nghiên cứu các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh, xác định khung hình phạt cần áp dụng đối với người phạm tội, và đánh giá đúng về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng việc xác định mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cũng như đánh giá mức độ lỗi của người phạm tội chỉ có thể thực hiện thông qua việc nghiên cứu các tình tiết về công cụ, phương tiện phạm tội, và hậu quả xảy ra thuộc mặt khách quan của tội phạm. Việc phân tích và xác định các dấu hiệu 13 Trường ĐH Luật TP. 14 Học viện tư pháp (2011), Giáo trình luật hình sự VN, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.
19 này là rất quan trọng trong việc đưa ra quyết định xử lý tội phạm và đảm bảo tính công bằng và chính xác trong pháp luật. Tội giết hoặc vứt bỏ con đều là hai tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, được xác định thông qua bốn dấu hiệu khách quan: hành vi phạm tội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, hoàn cảnh phạm tội. Hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của tội phạm phải là hoạt động có ý thức và có ý chí của con người, phải là hành vi trái pháp luật hình sự: pháp luật bảo vệ tính mạng con người và cấm mọi hành vi xâm phạm quyền sống của con người hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn tới hậu quả chết đã xâm phạm quan hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi khách quan của tội giết hoặc vứt bỏ con là hành vi trái pháp luật, có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà còn vi phạm đạo đức xã hội và những quy định của luật pháp về nhân quyền. Hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả là đứa trẻ bị tử vong, mà đó là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.