CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI GIAO CẤU HOẶC THỰC HIỆN HANH VI QUAN HE TINH DUC KHAC DOI VOI NGUOI TU DU 13 TUOI DEN DƯỚI 16 TUOI 1. Những van đề lý luận về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tinh dục khác đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi 1. Khai niệm, đặc điểm trẻ em Trẻ em là mầm non, là tương lai của đất nước, là lực lượng lao động chính trong tương lai. Trẻ em là thế hệ kế cận dé kế thừa các thành quả nghiên cứu, lao động của người đi trước.
Nếu không có trẻ em, các thành quả, kinh nghiệm tích lũy của các thế hệ đi trước sẽ không được kế thừa và phát triển. Sau khi trưởng thành, trẻ em sẽ tiếp nối những người đi trước, tiếp tục lao động, nghiên cứu và truyền lại các kinh nghiệm của bản thân cho thế hệ trẻ em tiếp theo. Vì vậy việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em vô cùng quan trọng. Trong pháp luật quốc tế, khái niệm về trẻ em đã được đề cập trong các Công ước và được nhiều quốc gia công nhận như: Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính tri năm 1966, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976,.
Theo đó, trẻ em là một thuật ngữ chỉ một nhóm người trong xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu phát triển của con người. Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1976 quy định, “Trẻ em là người dưới 18 tuổi” đã xác định rõ ràng tuổi của nhóm người được coi là trẻ em. Hay tại Điều 1 của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 có hiệu lực thi hành từ ngày 02/9/1990 (Việt Nam là nước đầu tiên ở châu A và là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước này vào ngày 20/02/1990), trẻ em được quy định như sau: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là bat kỳ người nào đưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thé được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Có thé thấy, pháp luật quốc tế đã thống nhất khái niệm về trẻ em.
Trong pháp luật Việt Nam, theo luật Trẻ em năm 2016 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017): “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Dễ dàng nhận thấy so với pháp luật quốc tế, độ tuổi xác định là trẻ em trong pháp luật Việt Nam thấp hơn 02 tuổi. Tuy nhiên, việc quy định như vậy hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, truyền thống của Việt Nam và không trái với các quy tắc trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam đã ký. Có thê thấy khái niệm về trẻ em được quy định trong luật Trẻ em năm 2016 đã giúp xác định rõ nhóm đối tượng này trong pháp luật Việt Nam.
Việc quy định trẻ em là người đưới 16 tuổi giúp bảo vệ, đảm bảo quyền của trẻ em không phân biệt dân tộc, tôn giáo, quốc tịch của trẻ em đang cư trú trên lãnh thé Việt Nam. Khác với người trưởng thành (người lớn), trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm, chăm sóc của xã hội. Nhóm đối tượng nảy cũng có những đặc điểm, đặc trưng riêng khác với người trưởng thành, chính các đặc điểm này yêu cầu trẻ em phải nhận được sự chăm sóc, quan tâm đặc biệt của xã hội. - Đặc điểm về độ tuổi Có thé thấy, đặc điểm về độ tudi là đặc điểm dé dàng nhận ra sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn.
Độ tuôi là thước đo sinh lý quan trọng giúp xác định một người bình thường có đầy đủ năng lực thé chất, nhận thức hành vi hay chưa. Chỉ khi đến một độ tuôi nhất định thì một người bình thường mới có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Theo quy định của PLHS Việt Nam, độ tuổi phải chịu TNHS về mọi hành vi của mình 10 là 18 tuổi. Trẻ em là người dưới 16 tudi, theo pháp luật Việt Nam, họ chưa có sự phát triển hoàn thiện về thê chất, trí tuệ, chưa có khả năng nhận thức hoàn toàn và đầy đủ hành vi pháp lý của bản thân và vì vậy họ cần sự quan tâm, bảo vệ của xã hội.
- Đặc điểm về mặt xã hội Trẻ em giống như một trang giấy trắng, ban đầu nhận thức của trẻ em rất đơn giản, trong sáng. Do chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi của bản thân, trẻ em thường có xu hướng học tập từ những người lớn, từ môi trường xung quanh chính các em. Môi trường gia đình, nhà trường sẽ giúp trẻ em xây dựng, hoàn thiện dần thói quen, tính cách và định hình con người của các em sau khi trưởng thành. Giống như câu tục ngữ: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, trẻ em bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi môi trường xã hội.
Thói quen, tính cách của trẻ em dễ bị ảnh hưởng bởi các hành vi xã hội nếu các hành vi xã hội tích cực giúp các em xây dựng một tính cách tích cực, có ích cho xã hội và ngược lại các hành vi tiêu cực dẫn tới trẻ em có một tính cách tiêu cực, cực đoan, chống lại xã hội. - Đặc điểm về sự phát triển sinh lý Giai đoạn phát triển nhanh nhất của một con người đó là khi còn là trẻ em. Giai đoạn này, trẻ em bắt đầu phát triển nhanh chóng, hoàn thiện dần thê chất, các chức năng sinh lý của cơ thể. Những chức năng mang tính bản năng của con người càng ngày càng được hoàn thiện đặc biệt là chức năng về sinh sản.
Giai đoạn này trẻ em cần có sự chăm sóc, giáo dục dé được phát triển một cách toàn diện, đúng chuẩn mực xã hội. Tránh dé trẻ em phát triển theo hướng lệch lạc, tiêu cực, tác động xấu đến xã hội. - Đặc điểm về tâm lý Như đã từng đề cập ở phía trên, trẻ em chưa hoàn thiện về thể chất cũng như tâm lý. Ở giai đoạn này, trẻ em có xu hướng tiếp thu, lĩnh hội các lãi kinh nghiệm của người lớn dé hình thành tâm lý, tính cách của bản thân.
Trẻ em giai đoạn này bắt đầu học tập. bắt chước như một người trưởng thành, tích hợp các thông tin thu được từ môi trường xung quanh đề hoàn thiện tính cách bản thân. Nếu được giáo dục đúng cách sẽ giúp hoàn thiện tâm lý cho trẻ em, ngược lại sẽ biến các trẻ em thành một người có một tâm lý ngỗ nghịch, chống lại xã hội. Bên cạnh đó, tâm lý của trẻ em rất yếu, dễ bị dao động, hoảng loạn, sợ hãi khi chịu các tác động tâm lý lớn, từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của trẻ em.
Từ những phân tích trên có thé hiểu trẻ em là người đưới 16 tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam, là nhóm đối tượng đặc biệt cần sự chăm sóc và bảo vệ của toàn xã hội để đảm bảo cho sự phát triển bình thường về tâm sinh lý. Khái niệm, đặc điểm tội giao cau hoặc thực hiện hành vi quan hệ tinh dục khác doi với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Tình dục với tư cách là một nhu cầu mang tính bản năng của con người không phải là vẫn đề mới đối với đời sống xã hội. Ở khía cạnh khoa học, tình dục được xác định là nhu cầu cơ bản, thấp nhất và không thể thiếu (Physiological) trong cau trúc 5 tầng nhu cau từ thấp đến cao của con người được Araham Maslow - nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới đề cập trong "A theory of human motivation" (Hoc thuyét vé động lực thôi thúc con người); đồng thời, có khả năng ảnh hưởng đáng kê đến con người khi nó chưa được thoả mãn và liên quan trực tiếp đến khả năng ton tại của con người. Do vậy, con người đấu tranh dé thoả mãn nhu cầu cơ bản này.
Nghiên cứu về nội dung này cho thấy tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt "Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao" [54, tr. 998] như vậy tình dục được xác định là nhu cầu tự nhiên của con người và có xu hướng giới tính. Tuy nhiên, cũng có cách tiêp 12 cận khác do nguồn gốc hán việt của từ tình dục, trong đó tình là cảm xúc, tình cảm, sự thăng hoa về tinh than; dục là sự đòi hỏi về mặt sinh lý của bat kỳ ai không phân biệt giới tính.
Do đó, tình dục có thé chỉ đơn thuần là biểu hiện cảm xúc (ví dụ như ham muốn) và có thê là hành vi, hoạt động sinh lý. Các quan niệm hiện đại về tình dục có nội hàm rộng hơn các quan niệm truyền thống. Điều này xuất phát từ sự thừa nhận của xã hội về các xu hướng tính dục khác truyền thống, đặc biệt là đồng tính và lưỡng tính. Theo đó, tình dục có thể được hiểu là: Hành vi tìm kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại khoái cảm, bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận khác của cơ thé.
Cũng vẫn là tình dục khi thực hành tìm kiếm khoái cảm với bạn tình khác giới hay cùng giới, với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây khoái cảm (thủ dâm) hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng dụng cụ chuyên dụng - Bác sĩ Đào Xuân Dũng [19, tr. Hay "tình dục không chỉ là giao hợp, là việc đưa dương vật của người nam giới vào âm đạo của người nữ giới. Bởi, giao hợp chỉ là một hình thức của tình dục. Tình dục theo đúng nghĩa của từ đó là tất cả những gì hai người làm dé gần gũi và đem lại cho nhau khoái cảm.
Tình dục là biết bao cách tạo cảm xúc, từ nụ hôn, cử chỉ âu yếm, vuốt ve nhẹ nhàng đến những kích thích mạnh mẽ" - bác sĩ Phan Xuân Trung.