Chương 1 “tô chức” ở đây là hành vi phạm tội chứ không chỉ quy mô của tội phạm. Song trong thực tiễn, tội tô chức sử dụng trái phép chất ma tuy, đa số các vụ án đều có số lượng lớn đối tượng bị truy cứu với vai trò đồng phạm. Như vậy yêu cầu đặt ra phải phân định rạch ròi giữa đồng phạm trong phạm tội có tổ chức và đồng phạm trong tội tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi thực hiện theo sự chỉ huy, phân công, điều hành ở tội này không đồng nhất với quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015 về Đồng phạm: 2.
Phạm tội có tô chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người XÚI giuc, ñĐØười giup suc. Người tổ chức trong vụ án đồng phạm có tô chức là người chủ mưu, chi huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm, thé hiện vai trò, nhiệm vụ nhất định trong vụ án. Yếu tố đồng phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đơn giản hơn, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ các đồng phạm như trong mô tả tình tiết “Phạm tội có tô chức”.
Việc chỉ huy, phân công, điều hành chỉ là việc bố trí, sắp xép, diéu hanh con người, phương tiện, dung cụ. dé thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma tuý!!. Đây là một trong những đặc điểm chủ yếu đề phân biệt hành vi “tổ chức” và “phạm tội có tổ chức”. Ngoài ra, phạm tội có tô chức nhất thiết phải có từ 02 người trở lên, là một hình thức đồng phạm; còn tổ chức sử dung trái phép chất ma tuý trong một số trường hợp có thé chỉ có một người cũng thực hiện được tội phạm.!? ! Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2022), “Một số vấn đề giải quyết vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Nguồn truy cập: https://vksndtc.vn/tin-tuc/mot-so-van-de-ve-giai- quyet-vu-an-to-chuc-su-dung--t9979 html. 2 Lê Van Cam, tldd 8 , tr. 13 Như vậy, tội tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý chỉ có một hành vi khách quan là hành vi “tổ chức”. Hanh vi tổ chức sử dụng trái phép chat ma tuý được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Thông tư liên tịch số 08/2015 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVII - “Các tội phạm về ma túy” thì hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bao gồm các hành vi cụ thê sau đây: - Chỉ huy, phân công, diéu hành các hoạt động dua trải phép chất ma túy vào cơ thể người khác Người phạm tội thực hiện hành vi của mình như người tô chức trong vụ án có đồng phạm và việc chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động dé đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; trường hợp phạm tội này, người phạm tội thường có một vị trí, quyền uy nhất định. Người thực hiện đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thê người khác theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. - Chỉ huy, phân công, diéu hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, dia điểm, phương tiện, dung cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy Đây cũng là các hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác nhưng không phải chỉ huy, phân công, điều hành hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thé người khác một cách trực tiếp mà thông qua những hành vi sau: Thứ nhất, hành vi chuẩn bị chất ma túy Trường hợp này người phạm tội có chất ma túy đưới bat kì hình thức nào như xin được, mua được, nhặt được hoặc được cho. để sử dụng trái phép chất ma túy.
Đây là hành vi có chủ đích trước được thé hiện dưới nhiều hình thức hoạt động như phân công nhiệm vụ đi tìm nguồn ma túy, phân công đề pha trộn ma túy, phân công chia đêu ma túy thành các liêu nhỏ đê cho các con nghiện sử dụng. Người 14 thực hiện theo các hành vi này theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bi coi là đồng phạm của tội tô chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thứ hai, hành vi cung cấp trái phép chất ma túy Người phạm tội trong trường hợp này cũng có chất ma túy dưới bất kì hình thức nào tương tự như các hình thức trong trường hợp trên với mục đích là cung cấp ma túy cho người khác đề họ sử dụng trái phép chất ma túy và tính chất thường xuyên, nhiều lần. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ, trường hợp này không bao gồm việc bán chất ma tuý đó cho người khác để họ sử dụng trái phép (sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội mua bán trái phép chất ma túy).
Ngoài ra theo điểm a, khoản 6.1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 08/2015 hướng dẫn ngoại lệ đối với hành vi cung cấp trái phép chất ma tuý như sau: Người nghiện ma túy có chất ma túy cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc tội sử dụng trái phép chất ma túy. Thứ ba, hành vi chuẩn bị, cung cap dung cu, phuong tién ding vao viéc sw dung trai phép chat ma tuy Người phạm tội chuẩn bị phương tiện, công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý như ống điều, cuốn hút,.; đối với hành vi này, chỉ cần xác định người phạm tội có mục đích dùng phương tiện, công cụ dé phạm tội. Thứ tư, hành vì chuẩn bị, cung cấp địa điểm để sử dụng trải phép chất ma túy Việc chuẩn bi địa điểm đề thực hiện tội phạm có thể thực hiện thông qua hình thức tìm, thuê, mượn, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do minh quản lý dé làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thê người khác. 15 Địa điểm ở đây có thể hiểu là nhà riêng, khách sạn, hàng quán, cơ quan hoặc là tàu biển, xe, một địa điểm thuận lợi bất kì,.
cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý diễn ra thuận lợi. Ví dụ: T có một căn hộ chung cư, khi tô chức sinh nhật tại nhà của mình 'T đã cùng các bạn là E, G, Q mua ma tuý về và cùng nhau tô chức sử dụng trái phép. Ở đây, T đã có hành cung cấp địa điểm do mình chiếm hữu dé là nơi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bên cạnh đó, khi truy cứu trách nhiệm hình sự tội này với Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 256 BLHS năm 2015 cần chú ý: Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó dé đưa chat ma túy trái phép vào cơ thê người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ' Thứ năm, hành vi tìm người sử dụng chất ma túy Khi có người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng vì những động cơ, mục đích khác nhau nên người phạm tội băng các thủ đoạn như: tìm kiếm, rủ rê,.
người có nhu cầu sử dụng chất ma tuý và giới thiệu với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dé nhăm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thé người này. Người nào thực hiện các hành vi nêu trên theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Việc phân loại các đối tượng, xác định vai trò chủ mưu, chỉ huy, phân công điêu hành, người thực hành, người chủ mưu, người g1úp sức, người thụ hưởng !3 Điểm a, khoản LB, Diéu 7 Thong tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 hướng dan áp dụng một sô quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm vê ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 16 trong tội tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý người phạm tội, tránh oan, bỏ lọt tội phạm. Hậu quả: hậu quả của hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý.
Mặc dù hậu quả không phải là yếu tố câu thành bắt buộc của tội phạm này nhưng nếu thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ có xảy ra đối với người sử dụng thì những thiệt hại đó là yếu tố định khung tăng nặng hình phạt cho tội danh này. Chủ thể của tội phạm Trước khi BLHS năm 2015 được ban hành, trong nhận thức lý luận ở Việt Nam, nói đến chủ thé của tội phạm tức là nói đến cá nhân với hai điều kiện: có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo duy định. Trong các giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành xác định rõ: Chủ thê của tội phạm là người đã có lỗi (có ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cắm (tức bị luật hình sự coi là tội phạm), có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định '* hoặc chủ thé của tội phạm là con người cụ thé đang sống, đã thực hiện tội phạm, đạt độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình su.!> Với tội tô chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định chủ thể của tội phạm là cá nhân. Về độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật hình sự hiện hành quy định như sau: 1.
Người từ đủ 16 tudi trở lên phải chiu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. ! Lê Văn Cảm, tldd 8, tr. ; 'S Trinh Tiên Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sy, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.