Đặt vấn đề Trong những năm gần đây sự biến động của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự biến động tăng về giá dẫn tới chi phí nguyên vật liệu tăng làm giảm khả năng canh tranh của sản phẩm. Mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là đạt được mức lợi nhuận tối đa với mức chi phí tối thiểu, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản phẩm luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Lợi nhuận càng lớn chứng tỏ các biện pháp, chính sách của doanh nghiệp là đúng đắn. Doanh nghiệp sản xuất với vai trò là nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm cần đi trước một bước trong việc tìm ra các biện pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm để từ đó tăng tích lũy và mở rộng sản xuất.
Một trong những biện pháp tiết kiệm chi phí có hiệu quả là tiết kiệm chi phí về nguyên vật liệu. Để đạt được điều đó doanh nghiệp không những phải lập kế hoạch chặt chẽ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ mà còn phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu sao cho không chỉ quản lý tổng thể nguyên vật liệu mà còn có thể quản lý chi tiết tới từng loại cả về số lượng và giá trị của chúng. Trong toàn bộ chi phí tạo ra sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn, do vậy chỉ cần biến động nhỏ của vật liệu cũng ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ tiêu quan trọng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận… Kế toán nguyên vật liệu đòi hỏi phải có thủ tục chặt chẽ, đúng đắn từ khâu thu mua đến lập chứng từ, đảm bảo cho xuất dùng kịp thời, đầy đủ cho quá trình sản xuất kinh doanh cũng như vào sổ sách và lên 1 các báo cáo. Việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình biến động của nguyên vật liệu sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh, tránh được hiện tượng lãng phí trong sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tiết kiệm chi phí nâng cao lợi nhuận cho Công ty.
Từ đó nhận thức được tầm quan trọng và vai trò tích cực của công tác kế toán nguyên vật liệu nên trong quá trình thực tập tại nhà máy tụi đó chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu : “Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn”.2 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn. - Thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí nguyên vật liệu tại Công ty trong thời gian tới.3 Đối tượng nghiên cứu - Các loại nguyên vật liệu 2 - Định mức nguyên vật liệu - Phương pháp hạch toán nguyên vật liệu - Công tác quản lý kho bãi nguyên vật liệu - Công tác kiểm kê nguyên vật liệu - Tình hình quản lý và sử dụng nguyên vật liệu 1.4 Nội dung - Cơ sở lý luận về nguyên vật liệu - Thực trạng quản lý nguyên vật liệu tại Công ty - Những tồn tại và hướng hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu 1.5 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Tại Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn – Thanh Hoá - Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/01/2010 đến 10/05/2010. 3 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu 2.1 Khái niệm Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động, tư liệu lao động do doanh nghiệp mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 Đặc điểm Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
Nguyên vật liệu thể hiện dưới dạng vật hóa. Trong các doanh nghiệp, NVL được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp. Trong quá trình tạo ra sản phẩm mới, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và trong chu kỳ đó, dưới tác động của sức lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ một lần và thay đổi hình thái vật chất ban đầu hình thành nên thực thể của sản phẩm, giá trị của NVL được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Trong toàn bộ chi phí tạo ra sản phẩm, chi phí về NVL thường chiếm tỷ trọng lớn, do vậy chỉ một biến động nhỏ của NVL cũng ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ tiêu quan trọng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh 5 thu, lợi nhuận… Đặc điểm của NVL là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và toàn bộ giá trị NVL được chuyển hết một lần vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, NVL bị biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn. NVL được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, vốn góp của các thanh viên tham gia công ty,. trong đó chủ yếu là do doanh nghiệp ngoài.2 Phân loại nguyên vật liệu Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp các nguyên vật liệu cùng loại với nhau theo một đặc trưng nhất định nào đó thành từng nhóm để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán. Mỗi loại NVL với đặc điểm, vai trò, công dụng, tính chất cơ lớ hoỏ khác nhau, lại biến động thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất nên đựơc sử dụng chế biến và bảo quản khác nhau.
Vì thế việc phân loại NVL được xem như một công việc cần thiết cho việc sử dụng, bảo quản nhanh chóng, thuận lợi, giúp cho khâu quản lý NVL được dễ dàng. - Căn cứ vào vai trò, tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất thì nguyên vật liệu bao gồm: + NVL chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): Là những thứ NVL mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm. Nguyên liệu là những vật phẩm tự nhiên chưa qua một sự chế biến nào và cần được tác động của lao động, máy móc, kỹ thuật biến hóa mới thành sản phẩm. + NVL phụ: Là đối tượng lao động nhưng không phải là cơ sở vật chất chủ yếu để hình thành nên sản phẩm mới.
Vật liệu phụ chỉ có vai trò phụ trợ 6 trong quá trình sản xuất kinh doanh được sử dụng kết hợp với NVL chính để tăng thêm đặc tính của sản phẩm, hay để phục vụ hoạt động sản xuất, bảo quản máy móc thiết bị để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, quản lý. + Nhiên liệu: là thứ để tạo ra năng lượng cung cấp nhiệt bao gồm các loại ở thể rắn, lỏng, khớ dựng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho các phương tiện vận tải máy móc thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh như: xăng, dầu, than đá, than bùn, củi, xăng, dầu… Nhiên liệu thực chất là vật liệu phụ để tác thành một nhúm riờng do vai trò quan trọng của nó nhằm mục đích quản lý và hạch toán thuận tiện hơn. + Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa, bảo dưỡng và thay thế thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải. + Vật liệu và thiết bị xây dựng: bao gồm các loại vật liệu và thiết bị (cần lắp hoặc không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ.) mà doanh nghiệp mua vào nhằm phục vụ hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản.
+ Phế liệu: là các loại vật liệu ra trong quá trình thi công xây lắp như sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và công ty, kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ một cách chi tiết hơn bằng cách lập sổ. Trong đó mỗi loại, nhóm, thứ vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng bằng hệ thống các chữ số thập phân để thanh thế tên gọi, nhãn hiệu, quy cách của vật liệu. Ký hiệu đó được gọi là sổ danh điểm vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp.
+ Vật liệu khác: gồm các loại vật liệu còn lại ngũai cỏc thứ chưa kể trên như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng. Ngoài ra có thể phân loại nguyên vật liệu theo các loại sau: - Căn cứ vào nguồn thu thập thì nguyên vật liệu được chia thành: + Vật liệu mua ngoài: là vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh được 7 DN mua ngoài thị trường (trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài). + Vật liệu tự sản xuất: là những loại vật liệu do chính doanh nghiệp tự sản xuất, chế biến hay thuê ngoài gia công, chế biến. - Căn cứ vào chủ sở hữu thì nguyên vật liệu được chia thành: + NVL tự có: mua sắm, nhận cấp phát, tặng thưởng, nhận góp vốn LD.
+ NVL giữ hộ hay nhận gia công: do DN nhận giữ hộ hoặc nhận gia công cho bên ngoài. - Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng nguyên vật liệu thì NVL của DN được chia thành: + NVL trực tiếp dùng cho sản xuất + NVL dùng cho các nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, quản lý DN, tiêu thụ sản phẩm.3 Đánh giá nguyên vật liệu Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng theo từng nguyên tắc nhất định. Theo quy định hiện hành kế toán nhập, xuất, tồn NVL trong DN phải phản ánh theo giá trị thực tế (bao gồm giá mua cộng với chi phí thu mua, vận chuyển), khi xuất kho cũng phải xác định giá trị thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy định.1 Nguyên tắc đánh giá - Nguyên tắc giá gốc ( theo chuẩn mực 02 hàng tồn kho) - Nguyên tắc thận trọng: - Nguyên tắc nhất quán: 8 2.2 Đánh giá vật liệu theo giá trị thực tế a) Trị giá vốn thực tế nhập kho được xác định theo nguồn nhập Nguyên vật liệu nhập kho được tính theo giá thực tế.